Chương 1 BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG 1. Một số vấn đề lý luận về bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc Mường 1. Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Mường Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin đã làm cho thế giới dường như nhỏ lại trước sự truyền dẫn thông tin mạnh mẽ và nhanh chóng. Cùng với sự lan tỏa thông suốt về thông tin trên phạm vi toàn cầu, sự giao lưu, tác động trao đổi lẫn nhau giữa các quốc gia trên mọi phương diện như: kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội được thể hiện dễ dàng hơn.
Xu thế đó đem lại nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng chứa đựng không ít những thách thức, trong đó có thách thức về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đó đã đặt ra một yêu cầu bức thiết cho mỗi quốc gia dân tộc phải có những chính sách cũng như giải pháp hữu hiệu để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, trong thời gian gần đây, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc được nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu. Vậy bản sắc văn hóa dân tộc là gì? Điều gì làm nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc? cần được xem xét một cách toàn diện nhiều chiều để từ đó đưa ra những lý giải thấu đáo và nhận thức đúng đắn về bản sắc văn hóa dân tộc.
Để hiểu được khái niệm bản sắc văn hoá dân tộc trước tiên chúng ta phải tìm hiểu khái niệm văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, trên thế giới hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo, để hình thành nên các giá trị các chuẩn mực xã hội trong qua trình lao động, hoạt động thực tiễn. Các chuẩn mực đó tác động chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh khi nói về sự tiến triển về tư tưởng tự do của loài người, Ph.Ăngghen đã viết “mỗi bước tiến lên trên con đường văn 10 hóa là một bước tiến tới tự do”[34, tr.Trong đoạn trích trên Ph.Ăngghen đã phân tích, con người trong tiến trình lịch sử của mình, khi thoát khỏi người vượn cổ, nghĩa là ngày càng có văn hóa, thì con người ngày càng tự do hơn, theo ông hai chữ “tự do” ở đây là bản chất con người.Ăngghen, khái niệm văn hóa học chưa xuất hiện còn khái niệm văn hóa thì vẫn chưa hoàn toàn tách khỏi văn minh.Lênin, nền văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực bản chất của con người cho nên nó phải là sự kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại để phát triển lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa bản chất người, V.Lênin viết: “Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra. văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu”[41, tr.
Văn hóa là kết quả của quá trình lao động và hoạt động xã hội của con người, khi mà đề cập đến vấn đề này các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Văn hóa sản sinh ra trong quá trình con người tác động vào tự nhiên và tiến hành đấu tranh xã hội”[10, tr. Một định nghĩa khác về văn hóa: “Văn hóa là biểu hiện của phương thức sống của con người, là tổng hòa mọi giá trị người”, trong các trường hợp văn hóa ở đây luôn chỉ là thuộc tính trong mối quan hệ sự vật - quan hệ, thuộc tính, hay nói một cách khác văn hóa ở đây chỉ có thể là mặt, là khía cạnh, là phương diện hay là thuộc tính của cái khác [45, tr. Định nghĩa “Văn hóa” được cộng đồng thế giới sử dụng nhiều và đã được nhiều người trích dẫn hơn cả là định nghĩa của UNESCO, nêu trong “tuyên bố về chính sách văn hóa” tại hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa của UNESCO từ ngày 26/7 đến ngày 6/8/1982 tại Mêhicô: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm qui định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản (tồn tại – being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng.
Văn hóa 11 đem lại cho con người khả năng suy xét (reflect – phản tư) về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt – con người, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt qua cả giới hạn của bản thân”. Trong sách Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh viết: “Người ta thường cho rằng văn hóa là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt.
Thực ra không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cũng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hóa tức là sinh hoạt”[1, tr. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc nói ông đã tìm được trên 300 định nghĩa về văn hóa và những định nghĩa này đều theo tinh thần luận, theo thao tác luận ông định nghĩa: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”[44, tr.
Khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[56, tr. Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và sử dụng các giá trị ấy trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình – tức là trong quá trình nhận thức và tương tác của con người với thiên nhiên, 12 với xã hội; trong quá trình con người tự nhận thức, tự hoàn thiện, - để chủ động nhân đạo hóa ngày càng cao cuộc sống của mình”[55, tr. Tổng quan về khái niệm văn hóa, chúng ta có thể thấy, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về văn hóa đã được đề xuất và lưu hành rộng rãi ở Việt Nam và trên thế giới, trong cuốn “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”, Phan Ngọc khẳng định: “Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại.
Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác” [43, tr. Trong bài viết của mình, Nguyễn Đức Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ: “góc rộng, hay góc nhìn “dân tộc học” đây là góc chung của nhiều nghành khoa học xã hội, góc hẹp góc thông dụng trong cuộc sống hàng ngày, còn gọi là góc báo chí”[9, tr. Văn hóa còn được hiểu theo một cách khác nữa “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[39, tr. Đề cương văn hóa Việt Nam do đồng chí Trường Chinh Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng ta khởi thảo và được công bố năm 1943, trong bối cảnh bấy giờ chiến tranh thế giới thứ hai đang lan rộng, và ngày càng ác liệt, ở Việt Nam, tình hình kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hóa xã hội rất phức tạp, mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ngày càng sâu sắc, Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng với nội dung ngắn gọn, súc tích, với tính khoa học và cách mạng đã trở thành một vũ khí tư tưởng sắc bén trên mặt trận văn hóa.
Nội dung của đề cương gồm 5 phần ngắn gọn, là sự cụ thể hóa quan điểm văn hóa của Đảng, sự gắn bó vai trò văn hóa với ý nghĩa cuộc cách mạng giải phóng, đặt ra những mục đích, nguyên tắc, quan hệ của cuộc cách mạng văn hóa với cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, đề ra nhiệm vụ cấp bách của người chiến sĩ văn hóa mácxít như là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá trình tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa. Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban Chấp hành Trung 13 ương năm khóa VIII ra nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhìn vào đó chúng ta có thể thấy toàn bộ tinh thần của nghị quyết đã làm sáng lên bức tranh của nền văn hóa đất nước trong tương lai “.