Tổng quan về luận án

Xây dựng đời sống văn hóa (ĐSVH) nông thôn là một trong những trụ cột chiến lược trong tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam. Bối cảnh nghiên cứu của luận án tiến sĩ "Xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Nghệ An" (Chuyên ngành: Quản lý văn hóa, Mã số: 9229042; Nghiên cứu sinh: Nguyễn Tất Hào; Người hướng dẫn khoa học: PGS. Đinh Thị Vân Chi; Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2022) gắn liền với quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về "Tam nông", Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, cùng Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) giai đoạn 2011–2020.

Tính tiên phong của công trình thể hiện ở việc tiếp cận không gian văn hóa xứ Nghệ – vùng đất giàu truyền thống hiếu học, "địa linh nhân kiệt" với hơn 40 dân tộc anh em cùng sinh sống và hệ thống di sản phong phú (khoảng 1.000 di tích lịch sử - văn hóa) – dưới lăng kính khoa học quản lý văn hóa hiện đại. Điểm nghẽn nghiên cứu (research gap) then chốt được xác định: Trong khi các công trình trước đây của Phan Hồng Giang (2005), Nguyễn Hữu Thức (2005, 2008), Cục Văn hóa cơ sở (2013) hay Phạm Đi (2016) chủ yếu tiếp cận ĐSVH từ góc độ xã hội học đại cương, thống kê phong trào đơn thuần hoặc tách biệt giữa kinh tế nông thôn và thiết chế văn hóa, thì hoàn toàn vắng bóng một mô hình nghiên cứu tích hợp làm rõ cơ chế tương tác biện chứng giữa khối cơ quan quản lý nhà nước và khối cộng đồng dân cư nông thôn trên địa bàn có phân hóa địa lý - sinh thái phức tạp.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được xác lập:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Vai trò của các chủ thể (ngành Văn hóa - Thể thao các cấp và cộng đồng cư dân) trong hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An được thực thi và tương tác biện chứng như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Những giải pháp mang tính đột phá và bền vững nào cần được triển khai để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và kích hoạt năng lực tự quản của cộng đồng dân cư nông thôn Nghệ An trong giai đoạn mới?
  • Giả thuyết khoa học (H1): Hoạt động xây dựng ĐSVH tại nông thôn Nghệ An thời gian qua chưa đáp ứng tối ưu nhu cầu hưởng thụ của người dân do sự mất cân đối giữa chỉ đạo hành chính một chiều (top-down) và tính chủ động tự quản cơ sở (bottom-up).
  • Giả thuyết khoa học (H2): Việc tối ưu hóa 5 nội dung quản lý văn hóa gắn liền với cơ chế phân quyền, xã hội hóa và thích ứng sinh thái 3 vùng (miền núi, trung du, ven biển) sẽ nâng cao rõ rệt chất lượng ĐSVH nông thôn.

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên Lý thuyết vai trò (Role Theory), Lý thuyết hành vi nông dân duy lý (Rational Peasant Theory), kết hợp quan điểm mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới. Phạm vi khảo sát trải dài trên 3 vùng sinh thái đại diện: huyện miền núi Anh Sơn (miền núi chiếm 83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), huyện trung du Đô Lương và huyện đồng bằng ven biển Nghi Lộc; quy mô mẫu khảo sát gồm 580 phiếu hợp lệ (trên 600 phiếu phát ra), 12 phỏng vấn sâu cán bộ quản lý văn hóa 3 cấp và 4 chuyên gia đầu ngành trong khung thời gian từ năm 2008 đến 2022.


Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn trong nước cho thấy hai mạch nghiên cứu chính. Mạch thứ nhất tập trung vào chính sách và phong trào ĐSVH cơ sở với các công trình của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Ban Chỉ đạo Trung ương (2004), Nguyễn Hữu Thức (2005, 2008), Nguyễn Ngọc Thanh (2015). Mạch thứ hai nghiên cứu về kinh tế - xã hội và vai trò của nông dân trong XDNTM như nghiên cứu của Phạm Huỳnh Minh Hùng (2017), Đoàn Thị Hân (2017), Nguyễn Thị Bích Điệp (2017), Lê Quốc Khởi (2017). Riêng tại Nghệ An, các tác giả Nguyễn Duy Quý et al. (1994, 2013), Bùi Dương Lịch (trong Nghệ An ký), Nguyễn Nhã Bản et al. (2001), Hồ Hữu Thới (1994) đã khắc họa sâu sắc bản sắc, tiếng nói và tâm thức con người xứ Nghệ.

Khoa học quản lý văn hóa ghi nhận hai luồng tranh biện học thuật quyết liệt:

  1. Trường phái Thể chế hóa hành chính (Top-down Institutionalism): Đại diện bởi các nghiên cứu quy chuẩn phong trào (Đoàn Thị Hân, 2017; Lê Quốc Khởi, 2017), cho rằng động lực xây dựng ĐSVH phải xuất phát từ sự dẫn dắt của hệ thống chính trị, tiêu chí hóa chỉ tiêu thi đua và nguồn lực đầu tư công.
  2. Trường phái Chủ thể tự quản cộng đồng (Bottom-up Grassroots Agency): Đại diện bởi Samuel Popkin (1979) và Phạm Huỳnh Minh Hùng (2017), lập luận rằng người nông dân là chủ thể duy lý, mọi hoạt động văn hóa chỉ thực sự bền vững khi xuất phát từ nhu cầu nội tại và quyền làm chủ tự quản của cộng đồng làng xã.

Luận án định vị chính xác khoảng trống khoa học: Chưa có công trình nào dung hòa hai trường phái này thông qua một mô hình quản lý văn hóa tương tác biện chứng tại địa bàn Nghệ An – nơi có sự phân tầng sâu sắc giữa 83% diện tích miền núi với vùng đồng bằng duyên hải.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, công trình mở rộng phát hiện của Hualou Long et al. (2009) và Anna L. Ahlers & Gunter Schubert (2013) về quản trị nông thôn mới tại Trung Quốc (vấn đề chuyển dịch lao động và tái cấu trúc làng xã), đồng thời đối chiếu với mô hình Quỹ Đời sống Văn hóa (Cultural Life Fund, Vương quốc Anh, 2018 - tổng vốn 860.000 bảng) và nghiên cứu của Creative City Network of Canada (2018) về rào cản thiếu hụt nguồn lực và tình nguyện viên già hóa tại các cộng đồng nông thôn.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết vai trò (Role Theory của George Herbert Mead, Jacob L. Moreno, Talcott Parsons và Ralph Linton) trong khoa học Quản lý văn hóa công. Thay vì nhìn nhận vai trò theo cấu trúc chức năng tĩnh, tác giả luận chứng rằng vai trò của các chủ thể trong xây dựng ĐSVH là một hệ thống hành vi động, có quan hệ tương hỗ và chuyển hóa liên tục:

$$\text{Hiệu quả ĐSVH} = f(\text{Vai trò QLNN} \times \text{Vai trò Chủ thể Cư dân} \times \text{Đặc thù Sinh thái Văn hóa})$$

Mô hình lý thuyết chuyển dịch từ mô hình "Nhà nước bao cấp và làm thay văn hóa" sang mô hình "Nhà nước kiến tạo thể chế - Nhân dân là chủ thể sáng tạo, lưu giữ và thụ hưởng".

               [ĐẢNG & NHÀ NƯỚC: CHỦ TRƯƠNG, NGHỊ QUYẾT]
                                  │
                                  ▼
      ┌────────────────────────────────────────────────────────┐
      │  KHỐI CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC (NGÀNH VHTT NGHỆ AN)   │
      │  • Sở VHTT: Định hướng, Thể chế, Kế hoạch vĩ mô       │
      │  • Phòng VHTT huyện: Điều phối, Hướng dẫn nghiệp vụ    │
      │  • Công chức VH-XH xã: Trực tiếp tổ chức, Kiểm tra    │
      └──────────────────────────┬─────────────────────────────┘
               Chỉ đạo,          │ ▲      Ý kiến phản biện,
               Tổ chức,          │ │      Nhu cầu thụ hưởng,
               Định hướng (1-5)  │ │      Giám sát xã hội
                                 ▼ │
      ┌────────────────────────────────────────────────────────┐
      │      KHỐI CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN NÔNG THÔN NGHỆ AN           │
      │  • Vai trò: Hưởng ứng, Thực thi, Đóng góp nguồn lực   │
      │  • Tự quản: Hương ước, Quy ước, Giám sát cộng đồng    │
      │  • Không gian: 3 vùng sinh thái (Núi - Đồi - Biển)     │
      └────────────────────────────────────────────────────────┘

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: Lý thuyết vai trò, Lý thuyết người nông dân duy lý (Popkin, 1979; Đào Thế Tuấn) và Khung quản lý văn hóa công của Đinh Thị Vân Chi. Nghiên cứu xác lập 5 nội dung quản trị cốt lõi:

  1. Tuyên truyền, giáo dục nhận thức về xây dựng ĐSVH.
  2. Xây dựng hệ thống văn bản quản lý và kế hoạch hoạt động.
  3. Huy động các nguồn lực thực hiện (vật lực, tài lực, nhân lực).
  4. Triển khai các hoạt động văn hóa (thưởng thức, sáng tạo, lưu giữ và truyền bá giá trị văn hóa).
  5. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá công nhận danh hiệu văn hóa.

"ĐSVH là những hoạt động của người dân gắn với quá trình thưởng thức, sáng tạo và lưu giữ, truyền bá các giá trị văn hóa trong cuộc sống hàng ngày." (Định nghĩa công cụ của luận án).

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập rõ: Vận hành tối ưu trong bối cảnh xã hội nông thôn đang chuyển đổi công nghiệp hóa, có sự đa dạng tộc người và địa hình chia cắt mạnh.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận hiện thực phản biện (Critical Realism) kết hợp giữa thực chứng (Positivism) trong đo lường định lượng và diễn giải học (Interpretivism) trong phân tích định tính. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed-methods multi-level design) được chuẩn hóa theo tam giác đạc (Triangulation):

  • Tam giác đạc dữ liệu: Khảo sát định lượng người dân, phỏng vấn sâu nhà quản lý, tham vấn chuyên gia và dữ liệu thống kê thứ cấp ngành văn hóa giai đoạn 2008–2022.
  • Tam giác đạc không gian: Phân tầng theo 3 vùng sinh thái đặc thù của tỉnh Nghệ An:
    • Vùng núi cao/vùng sâu: Huyện Anh Sơn (đại diện cho 83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh).
    • Vùng bán sơn địa/trung du: Huyện Đô Lương.
    • Vùng đồng bằng ven biển: Huyện Nghi Lộc.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu kết hợp phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) và chọn mẫu mục đích (Purposive Sampling):

  • Khảo sát bảng hỏi: Phát ra 600 phiếu, thu về 580 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 96,67%). Cơ cấu mẫu phân bổ đồng đều giữa các nhóm tuổi, giới tính và ngành nghề nông thôn.
  • Phỏng vấn sâu (IDI): 12 đối tượng cán bộ trực tiếp làm công tác văn hóa (Lãnh đạo Sở VHTT Nghệ An, Trưởng phòng VHTT huyện, và Công chức VH-XH cấp xã).
  • Tham vấn chuyên gia: 04 chuyên gia cao cấp về chính sách văn hóa và xã hội học nông thôn.
  • Độ tin cậy và giá trị: Thang đo Likert 5 mức độ được kiểm định nhất quán nội tại với hệ số Cronbach's Alpha tổng thể đạt $\alpha > 0.82$, đảm bảo giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.

Data và phân tích

Chỉ số phương pháp Chi tiết thông số thực nghiệm trong luận án
Quy mô mẫu khảo sát (N) $N = 580$ phiếu hợp lệ / 600 phiếu phát hành tại 3 huyện đại diện
Phân vùng địa bàn Huyện Anh Sơn (Miền núi), Đô Lương (Trung du), Nghi Lộc (Ven biển)
Phỏng vấn sâu cán bộ $n = 12$ nhà quản lý văn hóa 3 cấp (Tỉnh, Huyện, Xã)
Tham vấn chuyên gia $n = 04$ chuyên gia đầu ngành Quản lý văn hóa và Xã hội học
Công cụ xử lý dữ liệu SPSS, MS Excel; Kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định chéo $\chi^2$, Content Analysis
Dữ liệu nhân khẩu học tỉnh Dân số $> 3$ triệu người (đứng thứ 4 cả nước), hơn 40 dân tộc anh em
Đặc điểm lực lượng lao động Lao động chiếm gần 80% dân số; khu vực nông thôn chiếm gần 90% tổng lao động
Chất lượng lao động nông thôn Chỉ khoảng 8% lao động nông thôn qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật
Biến động di cư lao động Ước tính gần 10.000 lao động trẻ nông thôn rời quê mưu sinh mỗi năm

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Khoảng cách sâu sắc về thụ hưởng văn hóa giữa các vùng sinh thái: Có sự phân hóa rõ nét giữa khu vực đồng bằng ven biển và khu vực miền núi (nơi chiếm 83% diện tích tự nhiên). Hoạt động chiếu phim lưu động và thư viện cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt tần suất thấp, cơ sở vật chất - kỹ thuật tại nhiều xã miền núi còn thiếu thốn nghiêm trọng.
  2. Nghịch lý giữa "bệnh thành tích danh hiệu" và "chất lượng thực chất": Tỷ lệ đạt chuẩn "Gia đình văn hóa", "Làng/Bản văn hóa" tại các huyện tăng trưởng đều qua các năm nhưng chưa phản ánh đúng sự chuyển biến về nếp sống văn minh; hiện tượng thương mại hóa lễ hội và mê tín dị đoan vẫn tiềm ẩn.
  3. Hiện tượng "đóng băng" công năng thiết chế văn hóa cơ sở: Người dân nhiệt tình đóng góp tiền của, ngày công và hiến đất xây dựng nhà văn hóa thôn/bản theo tiêu chí XDNTM. Tuy nhiên, sau khi khánh thành, nhiều nhà văn hóa hoạt động kém hiệu quả, thiếu kinh phí duy trì và thiếu nội dung sinh hoạt phù hợp với giới trẻ.
  4. Khủng hoảng nguồn nhân lực văn hóa nông thôn do làn sóng di cư: Với việc gần 1 vạn lao động trẻ rời quê mỗi năm và tỷ lệ đào tạo chuyên môn ở nông thôn chỉ đạt khoảng 8%, lực lượng nòng cốt tham gia các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, thể thao quần chúng bị già hóa nghiêm trọng.
  5. Cơ chế phản hồi thông tin hai chiều bị nghẽn: Vai trò tham gia xây dựng kế hoạch và phản biện của người dân chưa được kích hoạt đúng mức; việc quản lý vẫn phụ thuộc chủ yếu vào mệnh lệnh hành chính của công chức cấp xã.

Trích dẫn lịch sử trong luận án từ học giả Bùi Dương Lịch (Nghệ An ký): "Xứ Nghệ đất xấu dân nghèo thua xa tứ trấn nhưng phong tục sở dĩ thuần hậu chính vì như thế. Do đất xấu dân nghèo nên chịu khổ, nhẫn nại, cần cù kiệm ước đã quen nền nếp..."

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Bổ sung cơ sở khoa học cho lý thuyết quản trị văn hóa công tại các vùng nông thôn đa tộc người thuộc các quốc gia đang phát triển.
  • Về phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ đánh giá 5 nội dung quản lý văn hóa phân tầng theo điều kiện sinh thái tự nhiên.
  • Về thực tiễn ứng dụng: Cung cấp giải pháp tối ưu hóa thiết chế văn hóa, phục dựng trò diễn dân gian (dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh) gắn với du lịch cộng đồng.
  • Về chính sách công: Cung cấp luận cứ thực chứng để Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An ban hành cơ chế đặc thù hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ văn hóa cơ sở và định mức ngân sách hoạt động văn hóa vùng sâu, vùng xa.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn không gian: Mặc dù 3 huyện đại diện đã phản ánh 3 vùng sinh thái, nghiên cứu chưa thể bao quát toàn bộ các tiểu vùng biên giới đặc thù hiểm trở như Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương.
  • Giới hạn phương pháp: Khảo sát xã hội học chủ yếu phản ánh lát cắt thời gian (cross-sectional data), chưa thực hiện được nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đo lường biến đổi tâm lý nông dân sau đại dịch.

Chương trình nghiên cứu 5–10 năm tới mở ra các hướng đi:

  1. Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và mạng xã hội đến ĐSVH thanh niên nông thôn.
  2. Mô hình liên kết công - tư (PPP) trong quản lý và khai thác thiết chế văn hóa, thể thao nông thôn.
  3. Đánh giá kinh tế học di sản văn hóa phi vật thể dân tộc thiểu số vùng Tây Nghệ An.
  4. Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia về chính sách phục hưng văn hóa nông thôn giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

Tác động và ảnh hưởng

  • Học thuật: Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học và Xã hội học nông thôn; dự báo tạo lập chỉ số trích dẫn cao trong các nghiên cứu về "Tam nông".
  • Chuyển đổi ngành văn hóa cơ sở: Tái cơ cấu phương thức vận hành hệ thống nhà văn hóa, trung tâm văn hóa - thể thao cấp xã từ mô hình thuần hành chính sang mô hình tự quản gắn với dịch vụ văn hóa cộng đồng.
  • Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ trực tiếp phục vụ sơ kết, tổng kết các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về phát triển văn hóa; định hình tiêu chí văn hóa trong Bộ tiêu chí NTM nâng cao và NTM kiểu mẫu giai đoạn 2021–2025.
  • Lợi ích xã hội: Góp phần thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa miền núi và đồng bằng, bảo tồn tiếng nói, chữ viết, dân ca, nghi lễ truyền thống của đồng bào Thái, Thổ, Khơ Mú, H'Mông; xây dựng nếp sống văn minh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học: Tiếp cận khung phân tích chuẩn mực về quản lý văn hóa và quy trình tam giác đạc phương pháp luận.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu văn hóa: Kế thừa bộ dữ liệu thực chứng đa dạng về nông thôn xứ Nghệ để mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu.
  • Cán bộ quản lý ngành VHTT (Sở, Phòng, Công chức xã): Áp dụng quy trình 5 bước tổ chức, quản lý và phương thức vận động quần chúng hiệu quả.
  • Nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và Trung ương: Có cơ sở dữ liệu thực nghiệm để phân bổ nguồn lực đầu tư văn hóa công bằng, hiệu quả.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã mở rộng Lý thuyết vai trò (Role Theory) của Parsons và Linton vào lĩnh vực Quản lý văn hóa công ở nông thôn Việt Nam, xây dựng thành công mô hình tương tác biện chứng 2 khối chủ thể (Cơ quan QLNN và Cư dân nông thôn) qua 5 chức năng quản lý, phá vỡ tư duy quản lý hành chính một chiều trước đây.

2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với các công trình của Hualou Long et al. (2009) hay Đoàn Thị Hân (2017), luận án kết hợp phương pháp hỗn hợp đa tầng (Multi-level mixed methods) với thiết kế chọn mẫu phân tầng sinh thái đại diện (Anh Sơn - miền núi, Đô Lương - trung du, Nghi Lộc - ven biển), bảo đảm tính đại diện cao cho cấu trúc địa hình và dân cư phức tạp của tỉnh Nghệ An.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?

Đó là nghịch lý "thừa vỏ thiếu ruột" của thiết chế văn hóa: Các địa phương hoàn thành tiêu chí cơ sở vật chất nhà văn hóa để đạt chuẩn NTM nhưng công năng sử dụng thực tế lại rất thấp do thiếu kinh phí vận hành định kỳ và thiếu vắng lực lượng thanh niên nông thôn (do mỗi năm gần 1 vạn lao động trẻ di cư rời quê).

4. Luận án có cung cấp giao thức tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?

Có. Bộ câu hỏi khảo sát 580 mẫu, bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu 12 cán bộ quản lý văn hóa và khung ma trận 5 nội dung quản lý được chuẩn hóa hoàn toàn, cho phép các nhà nghiên cứu tái lập khảo sát tại các tỉnh có điều kiện tương đồng như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao?

Tập trung vào chuyển đổi số thiết chế văn hóa nông thôn, phát triển công nghiệp văn hóa gắn với kinh tế di sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và xây dựng mô hình tự quản văn hóa cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu và già hóa dân số nông thôn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Tất Hào đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  1. Hệ thống hóa và phát triển hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý xây dựng ĐSVH nông thôn dựa trên Lý thuyết vai trò.
  2. Xây dựng khung phân tích 5 nội dung quản lý văn hóa lồng ghép ma trận tương tác biện chứng giữa Nhà nước và Nhân dân.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng ĐSVH nông thôn Nghệ An giai đoạn 2008–2022 trên 3 vùng sinh thái qua mẫu thực nghiệm 580 phiếu.
  4. Chỉ rõ các nút thắt thể chế, nhân lực, nguồn lực và sự chênh lệch thụ hưởng văn hóa giữa miền núi (83% diện tích) và đồng bằng.
  5. Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm phát triển bền vững ĐSVH nông thôn Nghệ An trong kỷ nguyên mới.

Trích đoạn Nghị quyết số 03/NQ/TW (Khóa VIII) được luận án hiện thực hóa: "...Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hoá, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh. Thu hẹp dần khoảng cách văn hoá giữa các trung tâm đô thị và khu vực nông thôn; giữa các vùng kinh tế phát triển với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân."

Công trình không chỉ là một đóng góp học thuật giá trị cho chuyên ngành Quản lý văn hóa mà còn là cẩm nang thực tiễn quý báu cho công cuộc xây dựng nông thôn mới giàu bản sắc, văn minh và bền vững tại tỉnh Nghệ An và cả nước.