Tổng quan luận án

Luận án nghiên cứu hoạt động xây dựng đời sống văn hóa (ĐSVH) ở nông thôn tỉnh Nghệ An, được thực hiện trong bối cảnh Nghị quyết số 26-NQ/TW (ngày 05/8/2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết số 33-NQ/TW (ngày 09/6/2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Tác giả chỉ ra rằng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An còn bộc lộ nhiều hạn chế: cơ sở vật chất – kỹ thuật yếu kém, mức hưởng thụ văn hóa của nông dân chênh lệch lớn so với khu vực thành thị, thể chế văn hóa nông thôn chưa đồng bộ và thiếu tính chiến lược lâu dài. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐSVH nói chung và nông thôn Việt Nam nói chung, chưa có công trình nào tiếp cận, phân tích một cách toàn diện hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An. Đây là lý do trực tiếp để nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An và kết hợp với lý luận cơ bản liên quan, luận án đề xuất giải pháp thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động này.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm năm nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An.
  2. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan.
  3. Đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An.
  4. Phân tích tác động của các yếu tố đối với hoạt động này.
  5. Đề xuất giải pháp đảm bảo hoạt động phát triển bền vững trong thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Vai trò của các chủ thể trong hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An như thế nào?
  • Giải pháp để nâng cao hiệu quả vai trò của các chủ thể trong xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An là gì?

Giả thuyết khoa học: Hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó lý do quan trọng là vai trò của các chủ thể xây dựng ĐSVH chưa được phát huy đầy đủ.

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An.

Phạm vi không gian: Ba huyện đại diện cho ba vùng sinh thái — huyện Anh Sơn (miền núi), huyện Đô Lương (trung du), huyện Nghi Lộc (đồng bằng ven biển).

Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến thời điểm nghiên cứu, tính từ mốc Nghị quyết số 26-NQ/TW được thông qua.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Hướng nghiên cứu lý luận và phong trào xây dựng ĐSVH:

  • Một số kinh nghiệm về triển khai Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Ban Chỉ đạo Trung ương (2004), khẳng định tầm quan trọng của việc đào tạo cán bộ, tránh chạy theo thành tích và đẩy mạnh xã hội hóa.
  • Xây dựng môi trường văn hóa – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2004), liên hệ việc xây dựng ĐSVH với giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
  • Nguyễn Hữu Thức (2005), Về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, làm rõ khái niệm và chức năng văn hóa.
  • Đề tài cấp Bộ do Nguyễn Hữu Thức chủ nhiệm (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2008) về các giải pháp thúc đẩy Phong trào TDĐKXDĐSVH, chỉ ra hạn chế về phối hợp liên ngành và thiếu tập trung vào các đối tượng trọng điểm.
  • Đề tài cấp Bộ Tác động của Phong trào TDĐKXDĐSVH đến lối sống con người Việt Nam hiện nay, Cục Văn hóa cơ sở (2013).
  • Kỷ yếu Hội thảo Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa, môi trường văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2015).

Hướng nghiên cứu ĐSVH nông thôn theo vùng:

  • Phan Hồng Giang (chủ biên) (2005), Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng Sông Hồng và sông Cửu Long, NXB Văn hóa – Thông tin, nhận diện bất cập trong xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống.
  • Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên) (2015), Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới, NXB Hồng Đức.
  • Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới khu vực vùng núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016).

Hướng nghiên cứu xây dựng nông thôn mới:

  • Phạm Đi (2016), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay (nghiên cứu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ).
  • Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm Huỳnh Minh Hùng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017) về vai trò chủ thể của nông dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
  • Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Văn Hùng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2015) về tỉnh Bắc Ninh — tác giả ghi nhận công trình này chưa đề cập rõ nội dung xây dựng ĐSVH nông thôn.
  • Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Đoàn Thị Hân (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2017) về nguồn lực tài chính ở các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc.
  • Luận án Tiến sĩ Tài chính – Ngân hàng của Nguyễn Thị Bích Điệp (Học viện Tài chính, 2017) về tỉnh Thái Bình.
  • Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Phạm Thị Minh Nguyệt (Học viện Khoa học xã hội, 2017) về tỉnh Thái Nguyên.
  • Luận án Tiến sĩ Xây dựng Đảng của Lê Quốc Khởi (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017) về lãnh đạo XDNTM ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

Hướng nghiên cứu về tỉnh Nghệ An:

  • Xây dựng ĐSVH ở cơ sở miền núi Nghệ An, Sở Văn hóa – Thông tin Nghệ An (1993).
  • Nguyễn Duy Quý, Trần Văn Danh, Thái Văn Cung (1994), Kinh tế – xã hội – văn hóa tỉnh Nghệ An trong tiến trình đổi mới.
  • Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Ngô Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ (2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An.
  • Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Trọng Đệ (2013), Văn hóa và con người xứ Nghệ, những bức chân dung, NXB Văn hóa – Thông tin.
  • Kỷ yếu Hội nghị Tổng kết 15 năm Phong trào TDĐKXDĐSVH (2000–2015), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An (2015).

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Các tài liệu nước ngoài được tác giả tham khảo tập trung vào: mô hình xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc (Anna L. Ahlers và Gunter Schubert; Hualou Long, Yansui Liu, Xiubin Li, Yufu Chen — đăng trên sciencedirect.com); di cư lao động nông thôn (Tuan Francis, Somwaru Agapi, Diao Xinshen); đặc điểm thiết chế nông thôn (Benedict J. tria Kerrkvliet, James Scott); và các thách thức về hoạt động nghệ thuật ở cộng đồng nông thôn (tài liệu từ creativecity.ca). Ngoài ra, dự án MISPA (2006) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Ngoại giao Pháp đồng soạn thảo cũng được đề cập.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đã có không có công trình nào đi sâu nghiên cứu toàn diện hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An trên cả năm nội dung: tuyên truyền – nhận thức, xây dựng văn bản quản lý, huy động nguồn lực, triển khai hoạt động văn hóa, và thanh tra – kiểm tra – giám sát. Luận án lấp khoảng trống này bằng cách tiếp cận từ góc độ quản lý văn hóa, xem xét vai trò của hai khối chủ thể chính trong mối quan hệ biện chứng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng lý thuyết vai trò làm cơ sở lý luận chủ đạo, tiếp cận từ góc độ quản lý văn hóa. Lịch sử lý thuyết vai trò xuất hiện vào những năm 20–30 của thế kỷ XX với các đại diện tiêu biểu gồm George Herbert Mead, Jacob L. Moreno, Talcott Parsons và Linton. Lý thuyết này phân tích nghĩa vụ và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân gắn với vị trí xác định trong xã hội.

Khung phân tích của luận án xác định hai khối chủ thể chính: (1) cơ quan quản lý nhà nước — ngành Văn hóa và Thể thao các cấp (Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, Công chức Văn hóa – Xã hội xã); và (2) cộng đồng người dân sinh sống trên địa bàn nông thôn. Mối quan hệ giữa hai khối chủ thể này được xem xét theo chiều chỉ đạo từ trên xuống và chiều phản hồi từ dưới lên.

Hoạt động xây dựng ĐSVH được phân tích qua năm nội dung: (1) tuyên truyền, giáo dục nhận thức; (2) xây dựng hệ thống văn bản quản lý, kế hoạch hoạt động; (3) huy động các nguồn lực; (4) triển khai các hoạt động văn hóa; (5) thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện.

Nền tảng phương pháp luận dựa trên nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An.

Hệ thống khái niệm công cụ gồm: ĐSVH, xây dựng ĐSVH, nông dân, nông thôn — tất cả được luận án xây dựng định nghĩa riêng. Các khái niệm ĐSVH được đối chiếu qua Viện Văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (1994), Nguyễn Văn Nhật và nhóm tác giả (2010), và Đinh Thị Vân Chi (2015); khái niệm nông dân tham chiếu Đỗ Kim Chung (2002), Samuel Popkin (Người nông dân duy lý, 1979), Đào Thế Tuấn; khái niệm nông thôn tham chiếu Đỗ Kim Chung, tổ chức FAO và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận hỗn hợp (định lượng kết hợp định tính):

Điều tra bằng bảng hỏi: Phát ra 600 phiếu cho người dân sinh sống tại ba huyện Anh Sơn, Đô Lương và Nghi Lộc; số phiếu hợp lệ thu về là 580 phiếu.

Phỏng vấn sâu: 12 người là nhà quản lý và nhân sự trực tiếp làm công tác xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An.

Xin ý kiến chuyên gia: 4 chuyên gia về hoạt động xây dựng ĐSVH nông thôn.

Phân tích tài liệu thứ cấp: Thống kê, hệ thống hóa nguồn tư liệu từ sách, báo, tạp chí, công trình đã công bố và văn bản có liên quan.

Phương pháp tổng hợp và so sánh: So sánh hoạt động xây dựng ĐSVH giữa các địa phương được lựa chọn khảo sát trong tỉnh.

Nguồn tư liệu/dữ liệu: Số liệu từ Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Nghệ An (cập nhật năm 2021), văn bản chính sách các cấp, và các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Nghệ An (45 trang)

Chương này thực hiện ba nhiệm vụ: điểm lại tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xây dựng khung lý luận, và phác thảo bức tranh tổng quát về ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An.

Về lý luận, luận án xác định định nghĩa công cụ: "ĐSVH là những hoạt động của người dân gắn với quá trình thưởng thức, sáng tạo và lưu giữ, truyền bá các giá trị văn hóa trong cuộc sống hàng ngày" (NCS đề xuất). Xây dựng ĐSVH được xác định là "tổng hòa các hoạt động của các chủ thể" qua năm nội dung nêu trên.

Về bức tranh khái quát, chương cung cấp các số liệu mô tả về nông thôn tỉnh Nghệ An:

Chỉ số Số liệu
Dân số toàn tỉnh Hơn 3 triệu người
Số dân tộc anh em Hơn 40 dân tộc
Tỷ lệ diện tích miền núi 83% địa bàn
Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi Gần 80% dân số
Tỷ lệ lao động nông thôn Gần 90% lực lượng lao động
Tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo chuyên môn Khoảng 8%
Số di tích – danh thắng 2.602
Số di tích đã xếp hạng 449 (trong đó 4 cấp quốc gia đặc biệt, 142 cấp quốc gia, 303 cấp tỉnh)
Số di sản văn hóa phi vật thể 960
Số đội văn nghệ quần chúng 4.025 đội
Tỷ lệ người dân tập TDTT thường xuyên 33,5%
Số CLB thể thao 905
Tỷ lệ gia đình thể thao 23%
Số lễ hội trên địa bàn tỉnh 126 lễ hội

Chương cũng ghi nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, và chỉ ra tính đặc thù về cảnh quan, dân tộc học của ba vùng sinh thái được khảo sát.

Chương 2. Hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Nghệ An (58 trang)

Đây là chương dài nhất, đánh giá thực trạng theo từng nội dung của khung phân tích. Chương xem xét vai trò của từng khối chủ thể — ngành Văn hóa và Thể thao các cấp và cộng đồng người dân — trong năm hoạt động: tuyên truyền nhận thức; xây dựng văn bản quản lý; huy động nguồn lực vật lực, tài lực, nhân lực; triển khai các hoạt động văn hóa (thưởng thức, sáng tạo, lưu giữ và truyền bá giá trị văn hóa); thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Chương trình bày kết quả đã đạt được, đồng thời chỉ ra các tồn tại, như: ĐSVH ở một số địa phương còn nghèo, mức hưởng thụ văn hóa chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị, tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo chuyên môn còn thấp (khoảng 8%), tình trạng mỗi năm có gần 1 vạn lao động trẻ rời quê tác động tiêu cực đến nguồn nhân lực cơ sở. Chương cũng phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xây dựng ĐSVH, bao gồm điều kiện địa lý tự nhiên (địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt với bão và gió phơn Tây Nam), đặc điểm dân cư (hơn 40 dân tộc, tỷ lệ gia tăng dân số nông thôn cao do kết hôn sớm) và đặc điểm văn hóa đặc thù của xứ Nghệ.

Chương 3. Nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Nghệ An (37 trang)

Trên cơ sở đánh giá thực trạng ở Chương 2 và lý luận ở Chương 1, chương này đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp với thực tiễn tỉnh Nghệ An và xu hướng phát triển chung của đất nước, nhằm phát huy vai trò của hai khối chủ thể trong năm nội dung hoạt động xây dựng ĐSVH. Các giải pháp hướng đến phát triển bền vững hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn, có tính đến đặc thù ba vùng sinh thái (miền núi, trung du, đồng bằng ven biển) được khảo sát.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm công cụ: ĐSVH, xây dựng ĐSVH ở nông thôn, nông dân, nông thôn — trên cơ sở đối chiếu nhiều quan điểm khác nhau và đề xuất định nghĩa phù hợp với điều kiện nghiên cứu tại Nghệ An.
  • Xây dựng khung phân tích hoạt động xây dựng ĐSVH gồm năm nội dung gắn với vai trò của hai khối chủ thể, ứng dụng lý thuyết vai trò từ góc độ quản lý văn hóa vào bối cảnh nông thôn cụ thể.
  • Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ quan quản lý nhà nước (ngành Văn hóa và Thể thao các cấp) và cộng đồng người dân, xác định người dân là nhân tố trung tâm trong hoạt động xây dựng ĐSVH.

Đóng góp về thực tiễn:

  • Cung cấp đánh giá toàn diện, có cơ sở khoa học về thực trạng hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An — một địa bàn chưa từng được nghiên cứu chuyên sâu theo hướng này.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp với thực tiễn tỉnh Nghệ An, có thể tham khảo cho công tác xây dựng ĐSVH ở nông thôn trong điều kiện tương tự.
  • Cung cấp cơ sở để các cơ quan chức năng tham mưu, đề xuất điều chỉnh cơ chế, chính sách về xây dựng ĐSVH nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án không trình bày mục hạn chế một cách tường minh. Tuy nhiên, dựa trên phạm vi nghiên cứu được xác định, có thể nhận thấy:

  • Nghiên cứu giới hạn ở ba huyện (Anh Sơn, Đô Lương, Nghi Lộc) nên tính đại diện cho toàn bộ 21 huyện, thị của tỉnh Nghệ An cần được xem xét thêm, đặc biệt với các huyện có điều kiện đặc thù như vùng biên giới.
  • Phạm vi thời gian từ 2008 đến thời điểm nghiên cứu có thể chưa phản ánh đầy đủ những biến chuyển sau giai đoạn đại dịch COVID-19 và các thay đổi chính sách mới nhất.
  • Các chỉ số văn hóa được sử dụng chủ yếu là thống kê hành chính (số lượng danh hiệu, số đội văn nghệ, tỷ lệ luyện tập TDTT); nghiên cứu tiếp theo có thể bổ sung các chỉ số về chất lượng hưởng thụ văn hóa và mức độ tham gia thực chất của người dân.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý văn hóa, văn hóa học, xã hội học nông thôn có thể tham khảo: khung phân tích năm nội dung hoạt động xây dựng ĐSVH; cách vận dụng lý thuyết vai trò vào nghiên cứu thực tiễn quản lý văn hóa cơ sở; và phần tổng quan tài liệu (Chương 1) với danh mục phong phú các công trình trong và ngoài nước về ĐSVH, nông thôn mới, nông dân.

Cán bộ, công chức ngành Văn hóa và Thể thao ở cấp tỉnh, huyện, xã — đặc biệt tại các địa phương có điều kiện tương đồng với Nghệ An (địa hình đa dạng, dân số đông, nhiều dân tộc) — có thể tham khảo phần đánh giá thực trạng (Chương 2) và phần giải pháp (Chương 3).

Người làm chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp – nông dân – nông thôn và văn hóa có thể tham khảo phần khái quát về đặc điểm địa lý, dân cư, văn hóa của nông thôn Nghệ An, cũng như các số liệu thống kê về di sản, thiết chế văn hóa và hoạt động thể thao quần chúng.

Nhà nghiên cứu về xứ Nghệ — từ văn hóa học dân gian đến lịch sử địa phương — có thể tìm thấy trong Chương 1 danh mục tổng hợp các công trình nghiên cứu về mảnh đất và con người Nghệ An từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XXI.


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cụ thể những chủ thể nào tham gia xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An?

Luận án xác định hai khối chủ thể chính: (1) cơ quan quản lý nhà nước — cụ thể là ngành Văn hóa và Thể thao các cấp (Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, Công chức Văn hóa – Xã hội xã); và (2) cộng đồng người dân sinh sống trên địa bàn nông thôn. Ngành Văn hóa và Thể thao được chọn làm đại diện khối quản lý nhà nước vì được giao làm cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH ở địa phương theo quy chế của Ban Chỉ đạo Trung ương.

2. Phạm vi khảo sát thực tế của luận án bao gồm những địa bàn nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?

Khảo sát được thực hiện tại ba huyện: Anh Sơn (đại diện nông thôn miền núi), Đô Lương (đại diện nông thôn trung du) và Nghi Lộc (đại diện nông thôn đồng bằng ven biển). Bảng hỏi phát ra 600 phiếu, thu về hợp lệ 580 phiếu. Ngoài ra, phỏng vấn sâu 12 nhà quản lý và nhân sự trực tiếp, đồng thời xin ý kiến 4 chuyên gia.

3. Tỉnh Nghệ An có hệ thống di sản văn hóa với quy mô như thế nào theo số liệu trong luận án?

Theo số liệu từ Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Nghệ An (cập nhật năm 2021), tỉnh có 2.602 di tích – danh thắng, trong đó 449 đã xếp hạng (4 cấp quốc gia đặc biệt, 142 cấp quốc gia, 303 cấp tỉnh); gần 50 nghìn hiện vật, di vật, cổ vật; và 960 di sản văn hóa phi vật thể gồm 92 di sản lễ hội, 93 di sản nghề thủ công truyền thống, 279 di sản tri thức dân gian.

4. Hoạt động thể thao quần chúng và văn nghệ ở nông thôn Nghệ An đạt được những chỉ số nào?

Theo số liệu trong luận án: tỷ lệ người dân nông thôn tập TDTT thường xuyên đạt 33,5%; toàn tỉnh có 905 CLB thể thao các loại; tỷ lệ gia đình thể thao đạt 23%; 100% trường học thực hiện chương trình giáo dục thể chất. Toàn tỉnh có 4.025 đội văn nghệ quần chúng với hàng nghìn buổi hoạt động phục vụ hàng triệu lượt người xem. Trên địa bàn có 126 lễ hội thuộc các cấp tỉnh, huyện, xã quản lý.

5. Lý thuyết vai trò được vận dụng như thế nào trong khung phân tích của luận án?

Lý thuyết vai trò — có nguồn gốc từ những năm 20–30 thế kỷ XX với các đại diện George Herbert Mead, Jacob L. Moreno, Talcott Parsons, Linton — được vận dụng để xác định và đánh giá quyền lợi, nghĩa vụ của từng chủ thể trong hoạt động xây dựng ĐSVH. Đối với ngành Văn hóa và Thể thao, các vai trò được xác định gồm: định hướng, tham mưu, tổ chức, thanh tra, kiểm tra. Đối với người dân, các vai trò gồm: hưởng ứng, phản hồi, thực hiện, giám sát, tự quản. Mối quan hệ giữa hai khối chủ thể được mô tả theo hai chiều: chỉ đạo từ cơ quan quản lý xuống cộng đồng và phản hồi từ cộng đồng lên các cấp quản lý.


Kết luận

Luận án tiếp cận hoạt động xây dựng ĐSVH ở nông thôn tỉnh Nghệ An từ góc độ quản lý văn hóa, vận dụng lý thuyết vai trò để phân tích mối quan hệ giữa ngành Văn hóa và Thể thao các cấp với cộng đồng người dân qua năm nội dung hoạt động cụ thể. Nghiên cứu lấp khoảng trống về một địa bàn chưa được khảo cứu chuyên sâu theo hướng này, cung cấp bức tranh thực trạng có số liệu cụ thể về di sản, thiết chế, hoạt động văn nghệ và thể thao quần chúng tại ba vùng sinh thái đại diện của Nghệ An. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất giải pháp phát huy vai trò của các chủ thể nhằm đưa hoạt động xây dựng ĐSVH nông thôn tỉnh Nghệ An phát triển bền vững, phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 26-NQ/TW và Nghị quyết số 33-NQ/TW.