Luận án tiến sĩ về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An

Chuyên đề sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An, tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

141
14
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

1.2. Mục tiêu của đề tài luận án

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.4. Điểm mới của luận án

1.5. Bố cục luận án

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Một số đặc điểm sinh học của cá Ngạnh

2.1.1. Vị trí phân loại

2.1.2. Đặc điểm hình thái

2.1.3. Đặc điểm phân bố

2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng

2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng

2.1.6. Đặc điểm sinh sản

2.1.7. Tình hình nghiên cứu về cá Ngạnh trên thế giới và tại Việt Nam

2.1.7.1. Tình hình nghiên cứu cá Ngạnh trên thế giới
2.1.7.2. Tình hình nghiên cứu cá Ngạnh ở Việt Nam
2.1.7.3. Tình hình nghiên cứu về một số loài cá da trơn ở Việt Nam
2.1.7.4. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, khí hậu vùng nghiên cứu

3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp nghiên cứu về đặc điểm sinh học

3.3.2. Phương pháp thu thập vật mẫu

3.3.3. Phương pháp định loại hình thái và sinh học phân tử

3.3.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố

3.3.5. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá Ngạnh

3.3.6. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng

3.3.7. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản

3.3.8. Phương pháp nghiên cứu về kỹ thuật sinh sản nhân tạo

3.3.9. Phương pháp nghiên cứu nuôi thuần dưỡng

3.3.10. Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh

3.3.11. Phương pháp nghiên cứu bệnh cá Ngạnh

3.3.12. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.3.13. Phương pháp xử lý số liệu

3.3.14. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Ngạnh

4.1.1. Định loại hình thái và sinh học phân tử

4.1.1.1. Kết quả phân loại hình thái bằng các chỉ tiêu đo, đếm
4.1.1.2. Kết quả phân loại bằng sinh học phân tử

4.1.2. Nghiên cứu đặc điểm hình thái cá Ngạnh ngoài tự nhiên tại Nghệ An

4.1.2.1. Quan sát, mô tả
4.1.2.2. Các chỉ tiêu đo đếm

4.1.3. Kết quả khảo sát vùng phân bố

4.1.3.1. Khảo sát một số yếu tố môi trường tại nơi khảo sát
4.1.3.2. Phân bố theo thời gian
4.1.3.3. Phân bố ở các điểm thu mẫu

4.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng cá Ngạnh

4.1.4.1. Cấu tạo cơ quan tiêu hóa cá Ngạnh
4.1.4.2. Phổ thức ăn cá Ngạnh
4.1.4.3. Độ no của cá Ngạnh
4.1.4.4. Tương quan chiều dài ruột và chiều dài tiêu chuẩn cá Ngạnh

4.1.5. Đặc điểm sinh trưởng cá Ngạnh

4.1.6. Đặc điểm sinh sản cá Ngạnh

4.1.6.1. Đặc điểm giới tính
4.1.6.2. Cấu tạo tuyến sinh dục
4.1.6.3. Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
4.1.6.4. Tuổi và kích thước thành thục lần đầu
4.1.6.5. Mùa vụ sinh sản của cá Ngạnh
4.1.6.6. Sức sinh sản của cá Ngạnh
4.1.6.7. Các giai đoạn phát triển phôi của cá Ngạnh

4.1.7. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá Ngạnh trong điều kiện nuôi tại Nghệ An

4.1.7.1. Kết quả thuần dưỡng cá Ngạnh trong điều kiện nuôi nhốt
4.1.7.2. Kết quả thuần dưỡng cá Ngạnh bằng các hình thức nuôi khác nhau
4.1.7.3. Kết quả thuần dưỡng cá Ngạnh bằng các nguồn thức ăn khác nhau

4.1.8. Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh

4.1.8.1. Kết quả thử nghiệm các loại thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ
4.1.8.2. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật cho cá Ngạnh đẻ
4.1.8.3. Kết quả ương giống cá Ngạnh

4.1.9. Kết quả nghiên cứu bệnh cá Ngạnh

4.1.9.1. Kết quả phân lập vi khuẩn trên cá Ngạnh
4.1.9.2. Kết quả cảm nhiễm vi khuẩn trên cá Ngạnh
4.1.9.3. Tỷ lệ nhiễm các loài vi khuẩn trên cá Ngạnh
4.1.9.4. Kết quả thử tính mẫn cảm kháng sinh của các loài vi khuẩn

4.1.10. Đề xuất giải pháp các kỹ thuật gây nuôi sinh sản cá Ngạnh

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cá Ngạnh Cranoglanis bouderius

Cá Ngạnh, với tên khoa học là Cranoglanis bouderius, thuộc họ cá Ngạnh (Cranoglanididae), là một loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao. Loài cá này phân bố rộng rãi ở các hệ thống sông từ miền Bắc đến miền Nam Trung Bộ Việt Nam. Cá Ngạnh thường sống ở tầng đáy, thích nghi với môi trường nước chảy vừa hoặc chậm, và có khả năng sinh sống thành đàn. Thịt của loài cá này được đánh giá cao về mặt dinh dưỡng, với thành phần axit béo phong phú, bao gồm cả axit béo bão hòa và không bão hòa. Tuy nhiên, do khai thác quá mức và biến đổi môi trường, nguồn lợi cá Ngạnh đang bị suy giảm nghiêm trọng, khiến cho loài này nằm trong danh sách các loài nguy cấp cần bảo tồn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh trở thành nhiệm vụ cấp thiết.

1.1. Đặc điểm sinh học của cá Ngạnh

Cá Ngạnh có những đặc điểm sinh học nổi bật, bao gồm cấu trúc hình thái đặc trưng và chế độ dinh dưỡng đa dạng. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái cho thấy cá Ngạnh có cấu tạo cơ thể thích ứng tốt với môi trường sống dưới đáy. Đặc biệt, hệ tiêu hóa của cá Ngạnh cho phép nó tiêu thụ nhiều loại thức ăn khác nhau, từ động vật phù du đến thực vật thủy sinh. Điều này giúp cá Ngạnh phát triển tốt trong điều kiện tự nhiên và nuôi trồng. Tuy nhiên, việc hiểu rõ về đặc điểm sinh học của loài cá này sẽ là cơ sở cho việc phát triển kỹ thuật nuôi và sản xuất giống trong tương lai.

II. Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh

Kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh là một trong những nội dung chính của luận án. Nghiên cứu đã xác định quy trình kỹ thuật từ việc chọn cá bố mẹ, kích thích sinh sản, cho đến ương cá bột. Việc thuần dưỡng cá bố mẹ trong điều kiện nuôi nhốt, kết hợp với các biện pháp kích thích sinh sản như sử dụng kích dục tố, đã cho thấy hiệu quả cao trong việc tạo ra nguồn giống cá Ngạnh chất lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng cá Ngạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng nước và chế độ dinh dưỡng. Những thông tin này không chỉ có giá trị trong việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản mà còn góp phần bảo tồn nguồn gen quý hiếm của loài cá này.

2.1. Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật sinh sản

Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá Ngạnh bao gồm các bước từ việc chọn cá bố mẹ, thực hiện thụ tinh nhân tạo, đến ương cá bột. Các thí nghiệm được tiến hành nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở, như nhiệt độ, pH và độ cứng của nước. Kết quả cho thấy rằng việc tối ưu hóa các yếu tố môi trường có thể nâng cao hiệu quả sinh sản của cá Ngạnh. Hơn nữa, việc nghiên cứu các biện pháp phòng trị bệnh cho cá Ngạnh trong quá trình nuôi cũng được chú trọng, nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng của nguồn giống.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về cá Ngạnh - Cranoglanis bouderius không chỉ mang lại những hiểu biết sâu sắc về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống mà còn có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn loài cá này. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời tạo ra cơ sở cho việc phát triển quy trình nuôi cá Ngạnh trong điều kiện nhân tạo. Điều này không chỉ giúp bảo tồn nguồn gen quý hiếm mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nuôi trồng thủy sản ở Nghệ An và các vùng lân cận.

3.1. Ứng dụng thực tiễn trong nuôi trồng thủy sản

Kết quả nghiên cứu về cá Ngạnh đã mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi trồng thủy sản tại Nghệ An. Việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất giống cá Ngạnh sẽ giúp cung cấp nguồn giống chất lượng cho các hộ nuôi trồng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài thủy sản quý hiếm, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt, việc phát triển nuôi cá Ngạnh có thể tạo ra những sản phẩm đặc sản, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho người dân địa phương.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm sinh học của cá Ngạnh 1. Vị trí phân loại Cá Ngạnh được phân loại như sau: Ngành động vật có dây sống: Chordata Lớp cá vây tia: Actinopterygii Bộ cá Nheo: Siluriformes Họ cá Ngạnh: Cranoglanididae Giống cá Ngạnh: Cranoglanis Loài cá Ngạnh: Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) Tên tiếng Anh: Helmet catfish Tên đồng vật: Bagrus bouderius Richardson, 1846; Macrones sinensis Bleeker, 1873; Cranoglanis sinensis Peters, 1880.

Tên thường gọi: cá Ngạnh (cá lớn), cá Ngạnh thon (Nguyễn Văn Hình 1. Cá Ngạnh trưởng thành Hảo, 2005). Đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) khi phân tích 03 mẫu cá thể cá Ngạnh thu ở sông Bằng Giang (Cao Bằng) và sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) có một số chỉ tiêu hình thái như sau: L=238-243 mm, L0= 198-205 mm, D=5-6; A= 27-35; P=I, 10-11; V= 1,10-11; C= 16; L0= 4,21-4,27 H= 3,87-4,13 T= 7,07-7,33 Icd= 11,39-12,38 ccd. H= 1,68-1,71 chiều rộng thân = 2,67 – 2,94h OO= 2,3O.

Thân tròn trơn láng. Phần đầu dẹp bằng, thân và đuôi dẹp bên. Viền lưng cong không đều, từ vây lưng tới mõm vát chéo thẳng; từ sau vây lưng gần như thẳng, đến vây mỡ cong xuống. Viền bụng từ mút mõm đến trước vây lưng gần vạt chéo, đến 6 hậu môn cong và đến cán đuôi thóp ngắn.

Phần đầu nhìn từ phía lưng lồi, mút trước hơi hình lưỡi cày. Mõm bẹp, mút hơi hẹp và nhọn, chiều rộng bằng chiều dài. Lỗ mũi trước tiếp cận với mút mõm, nằm gần cạnh phía trong gốc râu hàm, cách xa lỗ mũi sau. Lỗ mũi sau cách lỗ mũi trước bằng ½ lần tới viền trước mắt, phía trước mọc râu mũi.

Mắt lớn, nằm bên và ở chính giữa phần đầu; nhìn từ mặt bụng có thể nhìn thấy phần nhãn cầu.Khoảng cách hai mắt rộng lồi. Có một rãnh nông chạy từ đỉnh chẩm kéo dài quá mắt, phần ngang mắt rất rộng. Miệng dưới nằm sát mút mõm, hướng ngang, hình cong nông, chiều rộng bằng chiều rộng đầu ở nơi đó. Môi dưới phát triển hơn môi trên.

Rãnh sau môi dưới sâu, ngắt quãng ở giữa, độ rộng bằng đường kính mắt. Răng trên hai hàm sắc, nhọn. Râu mũi gốc to, mút cuối quá viền mắt. Râu hàm to bẹt, kéo dài chưa tới gốc vây ngực.

Râu cằm ngoài tới quá gốc vây ngực. Râu cằm trong ngắn hơn, chỉ tới phần lõm của mép mang [22]. Vây lưng rất cao, dài hơn chiều dài đầu và hơn chiều cao thân; gai vây ngắn hơn tia phân nhánh, mé trước sần sùi, mé sau có răng cưa rắn chắc; khởi điểm cách sau mút cuối xương thìa khoảng 1,5 lần đường kính mắt, tới mút mõm bằng tới khởi điểm vây mỡ hoặc quá một ít. Vây mỡ ngắn, khởi điểm không rõ ràng, ước thiên về nửa sau của gốc vây hậu môn, mút sau tự do.

Vây hậu môn có gốc dài tương đương với khoảng cách giữa vây ngực và vây bụng (PV), khoảng cách từ khởi điểm vây hậu môn (A) tới gốc vây đuôi bằng khoảng cách từ A tới khởi điểm vây ngực, viền vây hơi bằng. Vây ngực có khởi điểm ở dưới qua lỗ mang, tới mút mõm ngắn hơn tới khởi điểm vây bụng. Tia gai vây ngực mé trước có răng cưa yếu, mé sau răng cưa sắc. Vây bụng nhỏ, khởi điểm tới mút mõm bằng tới gốc vây đuôi, mút sau vượt qua khởi điểm vây hậu môn.

Hậu môn cách vây hậu môn bằng 1/3 khoảng cách giữa vậy bụng và vây hậu môn (VA). Vây đuôi phân thùy sâu, mút nhọn, thùy trên dài hơn. Gai chấm trên phía lưng thô ráp, tiếp xúc với gốc vây lưng. Mút sau của phần nhô xương thìa nhọn dài bằng 2/3 vây ngực.

Phần bụng sau vây bụng hơi lồi. Đường bên hoàn toàn từ phía trên lỗ mang kéo dài ngang bằng đến gốc vây đuôi, hai bên phân nhánh dạng ống ngắn. Vây hậu môn phủ da ở gốc chiếm khoảng ½ chiều cao vây. Lưng đầu xám đen, thân nhạt dần, bụng trắng nhạt.

Các vây có gốc xám nhạt, ngọn xám đen. Các râu màu đen, còn râu cằm trắng trong [22]. Đặc điểm phân bố Cá Ngạnh - Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) là một loài đặc hữu trong hệ thống sông Châu Giang (Pearl river) (Quảng Châu), hệ thống kênh mương ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), sông Hồng (Việt Nam). Cá Ngạnh cũng phân bố Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây thuộc hệ thống sông Tây Giang và Vân Nam) [22].

Ở Việt Nam, cá Ngạnh loài đặc trưng cho khu hệ được bắt gặp ở tất cả các hệ thống sông từ miền Bắc đến miền Nam Trung Bộ, không gặp ở miền Nam. Giới hạn thấp nhất về phía Nam biết được của loài cá này là sông Trà Khúc- Quảng Ngãi [16]. Ở Nghệ An, cá Ngạnh được thu thập trên lưu vực sông Lam thuộc khu vực các huyện: Con Cuông, Tương Dương, Nam Đàn, Nghĩa Đàn, … Nhưng nguồn lợi cá Ngạnh tự nhiên đang giảm mạnh do áp lực khai thác và thay đổi cấu trúc thủy vực làm thay đổi bãi đẻ, vùng phân bố của cá. Cá sống ở tầng đáy và kề đáy, cá thích sống ở nơi nước chảy vừa hoặc chậm, đáy nhiều bùn cát.

Cá thường sống thành từng đàn và thường thấy ở vùng hạ lưu nhiều hơn trung và thượng lưu các sông [22]. Đặc điểm dinh dưỡng Cá Ngạnh thuộc nhóm ăn tạp nên thành phần thức ăn đa dạng. Thức ăn chủ yếu là các động vật không xương sống, côn trùng, cá con. Trong ống tiêu hóa của cá còn gặp một số loài động vật nhỏ thuộc nhóm giáp xác Crustaceae (Cyclops, Ostrracoda,.), ấu trùng côn trùng.

Ngoài ra, cá còn ăn các nguyên sinh động vật, ấu trùng giáp xác, thực vật, các mảnh vụn hữu cơ lắng đọng và cả động thực vật thượng đẳng. Cá Ngạnh có tập tính kiếm ăn cả ban ngày và ban đêm, ở những nơi nước trong. Cá thường bơi theo đàn để kiếm mồi, thường vào ban đêm [22]. Chiều dài ruột của cá Ngạnh tăng dần theo tuổi, song chỉ ngắn hơn chiều dài thân một ít.

Cá tích cực kiếm mồi nên dạ dày thường có độ no cao. Chúng hay tập trung ở các bến phà, bến cá ven sông và ăn các chất cặn bạ của con người và súc vật thải ra sông. Thành phần thức ăn thay đổi theo kích thước cá, theo mùa vụ và phụ thuộc vào nơi sống. Ở những vùng hạ lưu, cá có kích thước lớn, ngoài mảnh vụn hữu cơ, rau, quả,.

thì trong ống tiêu hóa còn bắt gặp đa số là Annelides, Decapoda, Mollusca. Đặc điểm sinh trưởng Cá Ngạnh có kích thước trung bình, con lớn nhất nặng 1,5 kg. Cá 1 năm có thể đạt chiều dài 15,5-21,0 cm, trung bình khoảng 19 cm; năm thứ 2, tăng trưởng bằng 31,4 % năm đầu, còn các năm sau tăng trưởng chỉ từ 19-23% [22]. Nhìn chung, cá có tốc độ tăng trưởng lớn, năm sau giảm dần về chiều dài, nhưng lớn nhanh về khối lượng.

Sinh trưởng chiều dài có liên quan đến sự biến động của độ béo Fulton và độ béo Clark. Độ béo của cá Ngạnh tăng khi chiều dài cá tăng và đạt lớn nhất ở nhóm tuổi 5+, ngoài ra còn phụ thuộc các mùa trong năm. Thông thường, từ tháng 01 đến tháng 3 cá béo nhất. Đặc điểm sinh sản Cá đạt tuổi 3+ bắt đầu tham gia sinh sản.

Cá phát triển và thành thục tuyến sinh dục vào cuối mùa Đông, mùa vụ sinh sản vào khoảng từ tháng 3 đến 6 hàng năm, cá giống cỡ 5-6 cm thường xuất hiện vào khoảng tháng 7-9 hàng năm [22]. Cá Ngạnh đẻ trứng trong hang hốc tự nhiên hoặc tự đào hố ở đáy đất. Cá bố mẹ bảo vệ trứng và con cái ở nơi đẻ, thời điểm này cá rất dữ. Sức sinh sản của cá không cao, cá ở kích thước 27,5-42,5 cm đẻ được 300-12.500 trứng/cá thể, sức sinh sản tương đối là 10-23 trứng/g cá.

Kích thước trứng 0,9-1,3 mm chiếm 50- 95% tổng số lượng trứng. Tình hình nghiên cứu về cá Ngạnh trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu cá Ngạnh trên thế giới a) Các nghiên cứu về tên loài trong chi cá Ngạnh: Năm 1846, lần đầu tiên Richardson đã mô tả cá Ngạnh (Cranoglanis bouderius hay C. sinensis) như là loài Bagrus bouderius dựa trên một bức tranh sơn dầu của Trung Quốc [91].

Đến năm 1880, Peter đã mô tả giống Cranoglanis cùng với một loài mới, Cranoglanis sinensis. Loài này có đặc điểm chính là có đầu lớn, thân dài vừa phải, không vẩy. Vây lưng và vây ngực thường có ngạnh cứng, nhớt phủ ở da, vây có độc tố gây đau nhức cho người bị châm [90]. Cả Cranoglanis henrici và C.

9 multiradiatus đều có mấu lồi rộng hơn, vây hậu môn dài hơn (30,2 – 35,0% SL so với 27,6 – 30,0), với nhiều tia nhánh hơn (34 – 39 so với so với 28- 32), và có nhiều đốt sống hơn C. Hai loài này lại không giống nhau, trong đó C. henrici có miệng rộng hơn (34,5 - 36,4% HL so với 30,8) và đôi mắt bố trí xa nhau hơn C. A - mặt trái mấu lồi của Cranoglanis henrici, 143,3 mm SL; B - mặt trái mấu lồi của C.

bouderius, 146,0 mm SL. và Kottelat ) A B Hình 1. Nhìn mặt dưới đầu. A- Cranoglanis henrici, 197,8 mm SL; B- C.

multiradiatus, 187,6 mm SL. và Kottelat ) Năm 1926 đến năm 1927, Koller đã mô tả một loài cá ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) và đưa ra giống mới Pseudotropichthys với loài điển hình Pseudotropichthys multiradiatus, nhưng kết quả nghiên cứu của ông đã không so sánh với các loài thuộc giống Cranoglanis và lại xếp giống mới Pseudotropichthys vào phân họ Bagrinae [85]. Năm 1931, Myer đã thống nhất giống Pseudotropichthys với giống Cranoglanis và đưa ra họ mới Cranoglanididae (Myers, 1931). Tuy vậy, ông không đưa ra được vị trí của giống này trong một vài họ đã biết.

Do đó, Myer đã đặt tên họ mới là Cranoglanididae và đã được một số tác giả khác công nhận như Mo T. Herre (1934) đã hoài nghi về loài cá Ngạnh có nguồn gốc ở Hồng Kông. Dựa 10 trên các dữ liệu cơ bản về mẫu ở tỉnh Quảng Tây (Quảng Châu - Trung Quốc). Ông cho rằng nguồn gốc của cá Ngạnh là ở tỉnh Quảng Châu.

Tuy nhiên, ông tin rằng giống Cranoglanis không xuất hiện ở các đảo gần biển, đặc biệt là mẫu của Koller thu thập ở đảo Hải Nam. Mặc dù thực tế là cá Ngạnh xuất hiện phổ biến ở sông Tây Giang (West river) - một nhánh của sông Châu Giang và các nhánh của sông này, sông Fu ở Quảng Châu-Trung Quốc [83]. Jayaram (1955) đã thống nhất gộp 2 loài C. sinensis thành 2 loài C.

multiradiatus đã được coi là hai loài riêng biệt [84]. Bleeker (1973) đã mô tả Macrones sinensis trên một bức tranh vẽ ở Trung Quốc và được Jayaram & Boeseman (1976) chỉ ra chính là loài thuộc giống Cranoglanis [84] Eschmeyer (1998) cho rằng phân bố chuẩn của C. sinensis ở gần Hồng Kông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề Luận án tiến sĩ về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An của tác giả Nguyễn Đình Vinh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hữu Dực và TS. Nguyễn Kiêm Sơn tại Học viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào năm 2017, tập trung vào việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh trong điều kiện nuôi tại tỉnh Nghệ An. Bài luận án này không chỉ cung cấp những thông tin quý giá về sinh học của loài cá này mà còn đề xuất các phương pháp kỹ thuật giúp nâng cao hiệu quả sản xuất giống, từ đó hỗ trợ phát triển ngành nuôi trồng thủy sản tại địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm một số tài liệu liên quan như Nghiên cứu đặc điểm sinh học và quy trình sản xuất giống cá măng sữa, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về quy trình sản xuất giống cá trong lĩnh vực thủy sản. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan hơn về sự phát triển bền vững trong ngành thủy sản. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi lươn, giúp bạn nắm bắt được các mô hình nuôi trồng thủy sản khác nhau và hiệu quả của chúng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về lĩnh vực sinh học và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản.