MỞ ĐẦU HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ Khuẩn lam là sinh vật cổ xưa xuất hiện trên trái đất từ khoảng 3,5 tỷ năm về trước và có tên thường được gọi là tảo Spirulina. Loại tảo này do tiến sĩ Clement người Pháp tình cờ phát hiện vào những năm 1960 khi đến hồ Sat (fr:Lac Tchad) ở Trung Phi. Năm 1973, Tổ chức Lương nông quốc tế (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức công nhận tảo Spirulina là nguồn siêu thực phẩm của tự nhiên, đặc biệt có tác dụng trong phòng chống suy dinh dưỡng và chống lão hoá. Từ đó đến nay, tảo Spirulina đã được nhiều nhà khoa học trên toàn thế giới nghiên cứu.
Kết quả đều xác nhận rằng tảo Spirulina có tính nguyên chất cao, tuyệt đối không có chất độc hay phản ứng phụ nào trong trường hợp sử dụng liên tục hay quá liều, là sản phẩm tăng cường sức khoẻ và hệ miễn nhiễm với lượng dùng thường xuyên hàng ngày. Ngoài ra, Liên Hợp Quốc và Tổ Chức Sức Khoẻ Thế Giới cũng xác nhận rằng tảo Spirulina là loại thực phẩm lý tưởng và an toàn cho con người. Tảo Spirulina là một dạng tảo đa bào, có thành tế bào mỏng và mềm. Tảo Spirulina tiêu hoá dễ dàng và nhanh chóng với tỉ lệ tiêu hoá lên đến 95%.
Tảo Spirulina được coi là nguồn dinh dưỡng số 1 của tự nhiên. Tảo Spirulina cung cấp đầy đủ dưỡng chất thiết yếu cho cơ thể: protein – lipid – glucid cùng khoảng 30 vi lượng và hầu hết các vitamin cần thiết. Nó đáp ứng hoàn hảo chuẩn về chế phẩm dinh dưỡng protein – vi lượng khoáng – vitamin do FAO/ WHO công bố. Ngoài ra trong tảo còn có chứa nhiều chất chống ôxy hóa như: betacarotene, các carotenoid, selenium, chlorophyll và phycocyanin.
Ở Việt Nam tảo Spirulina đã được du nhập từ năm 1972 và đã có những nghiên cứu đạt kết quả khả quan. Cho đến nay, nhiều cơ sở nuôi trồng, sản xuất và chế biến các sản phẩm từ tảo Spirulina đã được thành lập với công nghệ nuôi tảo trên các bể nông xây bằng xi măng sử dụng khí CO2 của công nghệ tạo nguồn cacbon, nguồn CO2 trực tiếp lấy từ các nhà máy bia, cồn, rượu…nén hóa lỏng vào bình chứa. Đó là các cơ sở như Vĩnh Hảo (Bình Thuận), Châu Cát, Lòng Sông (Thuận Hải), Suối Nghệ (Đồng Nai), Đắc Min (Đắc Lắc). Nguồn CO2 từ lò nung vôi (sau khi lọc bụi) và các hầm khí biogas cũng đã được nghiên cứu tận dụng để phát triển nuôi trồng tảo và cũng đã thu được một số kết quả.
HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ Tuy nhiên cho đến nay giá bán tảo Spirulina vẫn còn khá cao, trên 70% là nhập khẩu từ nước ngoài, tảo chỉ được sử dụng chủ yếu làm dược liệu và làm thức ăn chống suy dinh dưỡng cho người già, trẻ em và đại đa số người dân vẫn còn chưa tiếp cận được.Do đó việc nghiên cứu các môi trường dùng để sản xuất tảo Spirulina với giá thành rẻ là hết sức cần thiết. Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu nuôi tảo Spirulina trong môi trường nước biển với kết quả đạt được hết sức khả quan.Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển dài 3.444 km đồng thời là quốc gia sản xuất muối lớn, hằng năm cả nước ta sản xuất trên dưới 900.000 tấn muối như vậy lượng nước ót thải ra không dưới 1.000 mét khối,trong nước ót có chứa nhiều khoáng chất cần thiết cho sự phát triển của Spirulina. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu nuôi khuẩn lam (Spirulina platensis) bằng phương pháp sạch trong hệ thống kín với môi trường khoáng cơ bản từ nước biển ” HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ 2. Tổng quan về Spirulina 2.
Lịch sử phát hiện và sử dụng Spirulina [4], [11], [12], [14], [16] Hiện diện trên trái từ 3,5 tỷ năm trước, Spirulina là một loài sinh vật lâu đời nhất trên trái đất. Trải qua bao năm tháng, nó sinh trưởng hoang dã ở những vùng nhiệt đới trong các hồ nước mặn của Châu Phi, Trung và Nam Mỹ. Sự sinh trưởng phong phú của nó lúc đó làm cho các hồ này nhìn như bị tràn ngập trong một màu xanh lam. Từ thời cổ xưa, Spirulina đã được sử dụng bởi người dân sống ở những nơi đó như một dạng thực phẩm.
Mặc dù họ không có một kiến thức gì về khoa học dinh dưỡng hiện đại, dựa vào kinh nghiệm, họ biết được Spirulina là một loại thực phẩm rất bổ dưỡng. Vào thế kỷ 16, khi người Tây Ban Nha đánh chiếm Mexico đã phát hiện thấy người Aztecs sống trong thung lũng Mexico, ở thủ đô của Tenochtitlan, sử dụng lưới có lỗ nhỏ để thu lượm một loại thực phẩm mới, màu xanh gọi là techuilatl từ các phá và làm những chiếc bánh màu xanh lục từ đó. Người Kanembu sử dụng túi vải để phơi tảo lam trên cát của hồ Chad dưới ánh nắng mặt trời. Khi đã khô, bánh tảo lam được mang ra chợ bán với tên gọi Dihé.
Trong bữa ăn hằng ngày bánh Dihé được đập nhỏ và trộn với nước cà chua, hạt tiêu, sau đó rót vào hạt kê, hạt đậu, cá, thịt để ăn. Phụ nữ mang thai ăn trược tiếp loại bánh này. Người Kanembu sử dụng 70% tảo lam theo cách này. Spirulina cũng dùng để đắp lên vết thương để trị một số bệnh nhất định ở châu Phi.
Năm 1940, trong báo cáo của nhà tảo học người Pháp Dangeard có nói rằng, loài tảo lam làm bánh Dihé cũng phổ biến ở một số vùng thuộc thung lũng Rift phía đông châu Phi. 20 năm sau, nhà thực vật học, Jean Léonard thấy một loại bánh màu xanh, ăn được bán ở chợ bản địa Fort-Lamy thuộc Chad. Năm 1967, Spirulina được đánh giá là ‘‘ wonderful future food source’’ tại hội nghị quốc tế về ứng dụng vi sinh vật. Những phân tích ban đầu cho thấy protein chiếm 60-70% trọng lượng khô Spirulina, protein này có hàm lượng acid amin thiết HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ yếu cân bằng.
Từ những kết quả trên, nhiều kế hoạch nghiên cứu cho mục đích công nghiệp được thực hiện trong nhưng năm 1970. Cho đến nay có rất nhiều nước trên thế giới sản xuất và xử dụng sinh khối Spirulina làm thực phẩm cho người. Nhiều tổ chức y tế, xã hội ở nhiều nước trên thế giới đã công nhận Spirulina là thức ăn bổ dưỡng và nó còn được gọi là thực phẩm của tương lai ( Food of future). Theo Hills (1980) thì tảo Spirulina là một loại thức ăn cao cấp và an toàn đã được các bác sĩ Nhật Bản dùng để điều trị một số bệnh hiểm nghèo như tiểu đường, ung thư, viêm gan.
Phân loại học [17], [18] Năm 1852, việc phân loại học đầu tiên được viết bởi Stizenberger. Ông đưa ra tên loài mới là Arthrospira dựa vào cấu trúc chứa vách ngăn, đa bào, dạng xoắn. Gomont đã khẳng định những nghiên cứu của Stizenberger vào năm 1892, đồng thời Gomont bổ sung thêm loài không có vách ngăn là Spirulina và loài có vách ngăn là Arthrospira. Như vậy, tên công nhận là Arthrospira, nhưng trong những hoạt động khảo sát và nghiên cứu Arthrospira được gọi là Spirulina, do đó tên Spirulina được sử dụng phổ biến cho đến nay thay cho tên Arthrospira.
Spirulina (Arthrospira) maxima và Spirulina (Arthrospira) platensis là hai loài quan trọng nhất , chúng được phân biệt do sự khác nhau về hình dạng sợi, không bào, sự bao phủ bên ngoài do vỏ hay màng nhày chiếm ưu thế. Cho đến năm 1962, Spirulina được chính thức xếp vào giới prokaryote do không có màng phospholipid và màng nhân. Theo Nguyễn Lân Dũng và cộng sự [1] Spirulina thuộc nhóm vi sinh vật nhân nguyên thủy thuộc vi khuẩn thật, gọi là vi khuẩn lam (Cyanobacteria) thường được gọi là tảo lam (Cyanophyta hay blue algae) hay tảo lam lục ( Blue green algae). Vi khuẩn lam có khả năng tự dưỡng quang năng nhờ chứa sắc tố quang hợp là chất diệp lục a.
Quá trình quang hợp của vi khuẩn lam là quá trình phosphoryl hóa quang hợp phi tuần hoàn, có giải phóng oxy như ở cây xanh. HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ Vi khuẩn lam không thể gọi là tảo vì chúng khác biệt rất lớn so với tảo : vi khuẩn lam không có lục lạp, không có nhân thực, có ribosom 70S, thành tế bào có chứa peptidoglycan do đó rất dễ mẫn cảm với penicillin và lyzozym. Đặc điểm sinh học [6] Khuẩn lam Spirulina platensis có dạng xoắn lò xo 5-7 vòng đều nhau, chiều dài của sợi thay đổi, có thể đạt tới 1/4mm hoặc hơn vì vậy rất thuận lợi cho thu hoạch ( có thể được vớt và lọc bằng các loại vải lọc thông thường theo phương pháp lọc trọng lực). Tế bào khuẩn lam Spirulina platensis không có vỏ cứng bao quanh như một số loài tảo khác nên có tỷ lệ tiêu hóa và hấp thụ cao trong cơ thể người và động vật, dễ phơi hoặc sấy.
Khuẩn lam Spirulina platensis không có khả năng sinh sản hữu tính, chỉ sinh sản bằng cách phân cắt sợi thành những đoạn riêng. Mỗi tế bào khuẩn lam này rộng 5µ, dài 2µ, không có lục lạp và thay vào đó là các tilacoit phân bố toàn bộ tế bào. Các hạt polyphosphat có đường kính 0,5-1µ thường nằm ở trung tâm tế bào và được các tilacoit bao quanh. Tế bào khuẩn lam Spirulina platensis chưa có nhân điển hình mà chỉ có vùng nhân không rõ rệt.
platensis dưới kính hiển HVTH: TRẦN HỒNG QUANH 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ Khuẩn lam trong tự nhiên thích sống ở môi trường kiềm giàu bicacbonat(HCO-3), pH biến động từ 9,5- 11, nhiệt độ thích hợp từ 28-350C, có khả năng chịu được biến động ánh sáng cao và tốt nhất khoảng 25-30 Klux. Môi trường nước thích hợp cho Spirulina có đặc tính : rất giàu Na+ và HCO-3, khá giàu K+ và SO4--, không có hoặc rất thấp Ca++,Mg ++ và Cl-. Giá trị dinh dưỡng [4], [12], [17], [18], [31] Qua nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng khuẩn lam Spirulina platensis được coi là một loại thực phẩm đặc biệt vì giá trị dinh dưỡng của nó hơn bất kỳ một loại thức ăn nào khác. Spirulina có hàm lượng protein trung bình gần 65% trọng lượng khô, giàu Carotenoid và có nhiều sắc tố (Phycocyanin, Chlorophyll…) và có chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao.