CHƯƠNG I: ĐẶC DIEM DE BIEN VIỆT NAM, CÁC NGUYÊN NHÂN HƯ HỎNG 'Tổng quan về đê biển Việt Nam. “Tổng quan về đê biển từ Quảng Ninh - Quảng Nam. Đặc điểm chung Vũng ven biển từ Quảng Ninh ~ Quảng Nam là nơi có địa hình thấp trùng, là những nơi tương đối phát triển vẻ kinh tế của nước ta, nông nghiệp chiếm phan lớn trong cơ cau nền kinh tế va theo định hưởng. phát triển kinh tế của Chính phủ thi din chuyển dịch sang hướng phát triển về công nghiệp, du lịch và dịch vụ và đây cũng là nơi tập trung dân cư đông đúc.
Đây là vùng biển có biên độ thuỷ triều cao (khoảng 4 mét) và nước dâng do bảo cũng rất lớn. Để bảo vệ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, các tuyến dé biển, đê cửa s ng ở khu vực này đã được hình thành từ rất sớm va cơ bản được khép kín. Tổng chiều dai các tuyển đê biển, dé cửa sông khoảng 484 km, trong đó có trên 350 km đê trực tiếp bi n. Sau khi được đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua dự an PAM 5325, PAM 4617 và quá trình tu bổ hàng năm, các tuyến dé biển nhìn chung đảm bảo chống được mức nước triểu cao tần suất 5% có gió bão cấp 9.
Tuy nhiên, tổng chiều dài các tuyến dé biễn rất lớn, dự án PAM mới chỉ tập trung khôi phục, nâng cấp các đoạn đê xung yếu. Mặt khác, do tác động thường xuyên của mưa, bão, sóng lớn, đặc biệt sau các trận bão số 2, số 6 và số 7 năm 2005 hệ thống đê biển Bắc Bộ đã bị tràn, vỡ và sat lở nhiều đoạn va vẫn còn nhiều tồn ti, trong đó các tồn tại chính được tóm tắt như sau: Nhiều đoạn thuộc tuyến dé biển Hải Hậu, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng. biển Đồ Sơn (Hải Phòng) đã bị tràn, vỡ, sat lở mạnh trong bão. Do bãi biên liên tục bị bao mòn, hạ thấp.
gây sat lở chân, mái kẻ bảo vệ mái đê biển, de doa trực tiếp đến an toàn của để biển Một số đoạn trước đây có rừng cây chắn sóng nên mái đê phía. biển chưa được bảo vệ, đến nay rừng cây chắn sóng bị phá huỷ, đê trở thành trực tiếp chịu tác động của sóng, thuỷ triểu nên nếu không được bảo vệ sẽ có nguy cơ vỡ bắt cứ lúc nào. Có đoạn trước đây dé có 2 tuyến nên tuyển dé trong không được bảo vệ mái, đến nay tuyén đê ngoài đã bị vỡ nên tuyển đê trong cấp thiết phải được cũng cố, bảo vệ chồng vỡ.5 km/484 km dé biển, để cửa sông chưa đảm bảo cao trình thiết kế, đa số các tuyến đê có chiều rộng mặt đê < 3,0m, đến nay trừ các tuyến đê bién số I, II, III (chiều dai khoảng 46,913km) thuộc Hải Phong có chiều rộng mat dé B = 5,0m, còn lại 152,Skm dé có chiều rộng khoảng 4,0 + 4.5m, 150 km có chiều rộng 3,0 + 40m và 125 km có chiều rộng <3,0m, cá biệt có nơi chỉ rộng 1,6 + 2,5m. Chiểu rộng mặt đê nhỏ gây khó khăn cho việc giao thông cũng như kiểm tra, ứng cứu đê như các tuyến đê Hà Nam (tinh Quảng Ninh), để biển Hải Hậu, Giao.
Hầu hết mặt dé chưa được gia cố cứng hoá nên khi mưa lớn hoặc trong mùa mưa bão. mặt đề thưởng bị sat 16, lẫy lội, nhiều đoạn không thé đi lại được, nhất là sau các trận bão năm 2005. Mới xây dựng được gần 90km/484km ké bảo vệ mái đê biển, nên những nơi mái dé phía biển chưa có kẻ bảo vệ hoặc không còn cây chắn sóng vẫn thường xuyên bị sat lở hoặc có nguy cơ sat lở đe doa đến an toàn của dé biển. Nhiễu đoạn ké thuộc để biển Nam Dinh, Hai Phòng đã bị hư hỏng nặng phần đá lát khan trong các đợt bão số 2, số 7 năm 2005.
Dit dip dé chủ yêu là dat cát pha, có độ chua lớn không trồng cỏ. được, có tuyến được đắp chủ yếu bằng cát phủ lớp dat thịt như đê biển Hai Hậu, hầu hết mái đê phía đồng chưa có biện pháp bảo vệ, nên thường xuyên bị xói, sat khi mưa, bão, đặc biệt tuyến dé biển Hải Hậu. Dai cây chắn sóng trước đê biển nhiều nơi chưa có, có nơi đã có. nhưng do công tác quản lý, bảo vệ còn bắt cập nên bị phá hoại để phục vụ việc nuôi trồng thuỷ sản.
Vì vậy, đê biển đa phần chịu tác động trực tiếp của sóng gây sạt lớ. Hệ thống đê biến, đê cửa sông tinh Quảng Ninh Tinh Quảng Ninh có hệ thống dé biển tập trung chủ yếu ở 8 xã thuộc huyện Yên Hưng (gọi là khu vực Hà Nam). Với độ cao trung bình thấp hơn mực nước thủy triều cao từ 2 +3m, hệ thống đê biển được hình. thành cách đây trên 750 năm.
‘Dé biển Hà Nam dài gần 33,6 km, tạo thành vòng khép kín, với số. dân 60000 người cùng với cơ sở hạ ting tương đối mạnh: hàng chục km đường giao thông, đường diện, trường học, bệnh xá và khoảng 3000ha đất canh tác nông nghiệp, trên 400ha đầm nuôi trồng thủy sản xuất khẩu. “Nhận xét: Bao bọc quanh đảo Hà Nam là 2 cửa sông dé ra biển xông Chanh và sông Nam (2 nhánh sông Bạch Đằng). đốc lớn, uốn lượn nhiều, triển sông ngoài dé có Si, Vet, Đối.
Tuyển đê thú sản bao quanh bãi, tạo thành lá chắn bảo vệ cho đề Hà Nam từ Km 21+ Km 32, da gió trong đoạn nay từ 500: 1000m. Sông Chanh có đội dốc nhỏ hơn và it cong, phía ngoài đê trực tiếp là sông không có bãi. Đồi diện bên kia sông là vùng Hà Bắc, đà gió tính đến hai bờ đối diện từ 500m + 1000m, riêng đoạn từ Km 10 + Km 21 chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc thông ra vịnh Hạ Long với đà gió khoảng 20km. Đây được xác định là vùng trọng yếu của đê Hà Nam, nơi thưởng xuyên bị gió bão.
và lũ uy hiếp nghiêm trọng, hầu như mùa bão lũ năm nao cồng xảy ra sự cố do vậy đoạn đê biên này rat can được quan tâm đúng mức. Hệ thống đê biến, đê cửa sông thành phố Hải Phong Hệ thống dé điều của Hải Phòng bao gồm 24 tuyến dé với tổng. chiều dai 422,629km, trong đó có 6 tuyển dé biển với chiều dai 104,265 km, 18 tuyến dé sông với chiều đài 318,364 km, 76 công trình kề với tổng chiều dài 62,516 km (35,668 km kè đê biển và 26,848 km kè dé sông), 393 cổng đưới dé (bao gồm 69 cổng dưới dé biển và 324 cổng dưới đề sông) Hệ thống dé này chia thành 6 tiểu hệ thống dé bảo vệ các khu vực độc lập, bao gồm: Bốn hệ thông dé theo địa giới hành chính huyện là Vinh Bảo, Tiên Lang, Thủy Nguyên, Cát Hải Hai tiểu hệ thống đê độc lập theo địa giới huyện là hệ thống Da Độ gồm bồn đơn vị hành chính: huyện An Lão, Kiến Thụy, quận Kiến An, thị xã Đồ Son; và hệ thống đê An Dương và nội thành bao gồm 6 đơn vị hành chính: huyện An Dương, các quận Héng Bing, Lê Chân, Ngô Quyền và Hải An. Chiều dài các đoạn như sau: - Đề biển l: 17,591 km; - Để biển Ih 10,660 km; - Để biển ILL 21,162 km: - Để biển Tring Cit: 19726 km; - Để Hữu Bạch Đằng: — 14.401 km; lộ dòng chảy của vùng cửa sông ven biên Hải Phòng chịu ảnh.
hưởng trực tiếp của các dòng sông (sông Cam, Bạch Ding, Sông Chanh.) và dòng triều. Dòng chảy sông có ảnh hưởng đặc biệt đến dong chảy chung của vùng cửa sông vào mủa lũ khi nước thượng nguồn ở các sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Hồng qua sông Đuống sông Luộc chảy về. Khi hoà nhập của nước sông vào khối nước biển dưới sự tương tác của dòng triều và dòng lũ, nước bị đồn ép ở pha triều lên và khi triều rút có sự cộng hưởng giữa dòng triều và dong nước. xông gây ra tốc độ dòng chảy rất lớn.
+ Biển, bờ biển, hải đảo: ‘Ving biển Hai Phòng là một bộ phận thuộc tây bắc vịnh Bắc bộ Các đặc điểm cấu trúc địa hình đáy biển và đặc điểm hái văn biển Hải Phòng gắn liền với những đặc điểm chung của vịnh Bắc bộ và biển Đông. ‘DG sâu của biển Hai Phòng không lớn. Đường đẳng sâu 2m chạy quanh mũi Đồ Son rồi hạ xuống Sm ở cách bờ khá xa. các cửa sông đỏ ra, do sức xâm thực của dòng chảy nên độ sâu lớn hon Ra xa ngoài khơi, đáy biển hạ thấp dần theo độ sâu của vịnh Bắc Bộ, chừng 30 - 40 m.
Mặt đáy biển Hải Phòng được cấu tạo bằng thành phần. mịn, có nhiễu lạch sâu vốn là những lỏng sông cũ nay dùng làm luồng, lạch ra vào hing ngày của tau biển Kết quả điều tra khảo sát đo đạc ở 2 cửa sông và khu vực ven biển trước đảo cho thấy: Dòng chảy vùng ven biển và cửa sông Hai Phòng có. chế độ phức tạp thể hiện mỗi tương tác: Mực nước - địa hình đáy - sóng - gió - thuỷ triều Qua phân tích ảnh hưởng của chế độ gió và sóng gió trong mùa đông tới vùng ven biển Hải Phòng không nhiều: Chế độ dòng chảy phụ thuộc chủ yếu vào yếu tổ địa hình và dao động mực nước (do thuỷt ). Kết quả điều tra khảo sát đo đạc ở hai cửa sông và khu vực ven biển cho.
thấy, về mùa đông khi chế độ sóng. gi tương đối "yên lặng”, dòng chảy. xuất hiện chủ yếu do dòng triều và sự chênh lệch mực nước do khối nước sóng triéu bị đồn ép khi vào bờ. Mặc dù vậy, trong những ngày.
nước cường có sóng gió hướng Đông và Đông Nam phát triển, dong, chảy ven bờ do sóng gây ra kết hợp với các loại đồng khác lâm tăng (hoặc giảm) tốc độ dòng chảy tong hợp vùng ven bờ. + Bùn cát bờ biển và cơ chế vận chuyển bàn cát: Hướng di chuyển của bùn cát: Hoàn lưu di chuyển của dòng bùn cát phụ thuộc vào hướng ding chảy tổng hợp, trong đó chủ yếu là dong, triều. Di chuyên bùn cát dọc bờ do sóng là quan trọng nhưng không giữ vai trd chủ đạo, Nhận xét: Từ đặc điểm về địa lý, địa hình, địa chất, kết hợp với đặc điểm về khí hậu, cùng với chế độ thuỷ hải văn của khu vực Hải Phòng cho thấy đây là một vùng bở biển đặc trưng của khu vực ven biển. Vùng bờ biển Hải Phòng có địa hình và địa chất phức tạp.
Nguyên nhân về nguồn gốc xói lở liên quan đến sự hình thành và quá trình phát triển, tiến hoá, được hình thành từ chế độ bồi tụ cửa sông, châu thổ, trong quá trình phát triển.