Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Cơ sở lý luận về quản lý của NHNN đối với Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm về quản lý của Nhà nước đối với QTDND 1.1 Sự ra đời của QTDND Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 10/SL thành lập Nha tín dụng sản xuất, tổ chức này có nhiệm vụ cho vay vốn đối với nông dân, nhất là nông dân nghèo để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Tiếp đến thành lập Hợp tác xã tín dụng từ năm 1956 ở miền Bắc và năm 1983 miền Nam.
Đến năm 1985 hầu hết các xã trong cả nước đều có Hợp tác xã tín dụng, các Hợp tác xã tín dụng đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách kinh tế, tiền tệ ở nông thôn. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1987), nhất là từ năm 1989 nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó Ngành Ngân hàng cũng chuyển sang cơ chế Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng kinh doanh. Hoạt động của HTX tín dụng theo cơ chế cũ không còn thích hợp và do không chuyển hướng kịp thời nên đã lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Các HTXTD bị mất phương hướng hoạt động vì bị xóa bỏ bao cấp, mặt khác không được hướng dẫn cụ thể các phương cách đổi mới, do đó phần lớn HTXTD ngừng hoạt động, những năm 1989-1990 hầu hết HTXTD ở nông thôn phải ngừng hoạt động và các QTD đô thị bị mất khả năng thanh toán đỗ vỡ dây truyền.
Do yêu cầu phát triển kinh tế, mở rộng thị trường đổi mới đất nước để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất và đời sống ở nông thôn để tránh cho vay nặng lãi. Vì vậy ngày 27/7/1993 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 390/QĐ-TTg về việc triển khai đê án thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân. Sau đó là Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ trước mắt và lâu dài phải củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND. Khái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân trong đó được hiểu về Quỹ tín dụng như sau: Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống.
Tại Luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 cũng có quy định về tổ chức tín dụng hợp tác xã: “Tổ chức tín dụng là hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống” Trong giai đoạn Quỹ còn được thí điểm thành lập, có 3 cấp đó là Quỹ tín dụng cơ sở, Quỹ tín dụng khu vực và Quỹ tín dụng Trung ương (nay là Ngân hàng Hợp tác xã). Mỗi Quỹ là một pháp nhân riêng, hoạt động độc lập song được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một hệ thống để điều hòa, phân phối vốn. Hiện nay, QTDND đã được cơ cấu lại theo mô hình gồm các QTDND cơ sở. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác do các thành viên trong địa bàn tự nguyện thành lập và hoạt động theo quy định của Nhà nước nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên.
Phạm vi của một quỹ cơ sở thường là địa bàn của một xã, một phường, do các thành viên là cá nhân hoặc hộ gia đình tự nguyện góp vốn. Có thể nói quỹ cơ sở cũng như một ngân hàng, huy động vốn tại chỗ và cho vay các thành viên hoặc người nghèo không phải là thành viên cư trú trên địa bàn hoạt động. Từ những quỹ cơ sở này mà quỹ Trung ương được thành lập với chức năng huy động vốn, đại diện cho hệ thống tiếp nhận vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tài trợ cho chương trình tín dụng phát triển nông nghiệp - nông thôn, điều hòa vốn cho các QTDND thành viên và cung cấp các dịch vụ cho toàn hệ thống nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống quỹ tín dụng nhân dân. 8 Để hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác được tham gia góp vốn vào Ngân hàng Hợp tác xã theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Khái niệm quản lý Nhà nước đối với QTDND Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình điều hành các hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Trong hoạt động quản lý nhà nước, vấn đề kết hợp các yếu tố của hoạt động quản lý là rất phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực cao với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ hiện đại. Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp.
Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ". Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ.
9 Cũng như hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân là một quá trình tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của Ngân hàng Nhà nước tới các hoạt động tiền tệ và ngân hàng của các QTDND để đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Trong mối quan hệ này, chủ thể quản lý là Ngân hàng Nhà nước, với vai trò là ngân hàng trung ương và cơ quan thuộc Chính phủ, có thể tác động tới đối tượng bị quản lý thông qua những kế hoạch, chương trình, chính sách, biện pháp và những quyết định hành chính khác. Đặc điểm của quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với QTDND 1. Đặc điểm của QTDND * Tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế hợp tác Nguồn gốc ra đời của QTDND là do những người nông dân, lao động sản xuất và kinh doanh nhỏ cùng nhau góp vốn thành lập để hỗ trợ nhau được vay vốn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo.
Các thành viên vừa là người đồng sở hữu, vừa là hội viên và cũng đồng thời là khách hàng của QTDND. Do vậy, để đảm bảo bình đẳng trong việc hỗ trợ tất cả các thành viên, QTDND phải được tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế Hợp tác xã là loại hình tổ chức kinh tế mà trong đó mọi thành viên đều được quyền tham gia quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động và quyết định mọi vấn đề một cách dân chủ. Khác với các Ngân hàng thương mại cổ phần là tổ chức mà quyền quyết định thuộc về thiểu số các cổ đông lớn, ở QTDND mỗi thành viên chỉ được quyền đại diện cho một phiếu bầu mà không phụ thuộc vào số lượng vốn góp. Vì vậy, có thể nói đây là đặc trưng riêng có của loại hình TCTD này nhằm đảm bảo cho việc thực thi được tôn chỉ, mục tiêu hoạt động đã đề ra kể từ khi khởi xướng đến nay là hỗ trợ, phục vụ cho các thành viên.
* Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân có mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên Các thành viên QTDND đều là các chủ thể hoạt động kinh tế độc lập; khi họ cùng nhau góp vốn thành lập QTDND thì mục tiêu cơ bản đối với họ là được 10 QTDND cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng một cách thuận tiện, thường xuyên và ổn định lâu dài với mức giá cả có thể chấp nhận được, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó thu được lợi nhuận cao nhất từ những hoạt động sản xuất kinh doanh của riêng mình, chứ không phải trước hết nhằm mục tiêu thu được lợi tức vốn góp cao nhất từ các hoạt động của QTDND. Vì vậy, một QTDND được đánh giá là hoạt động tốt khi QTDND đó đáp ứng được yêu cầu nói trên của các thành viên.