Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE TOI HUY HOẠI RUNG VA TOI VI PHAM QUY DINH VE QUAN LY RUNG TRONG LUAT HINH SU VIET NAM 1. Khái niệm, ý nghĩa của tội hủy hoại rừng va tội vi phạm quy định về quản lý rừng 1. Khái niệm tội hiy hoại rừng và tội vi phạm quy định về quan ly rừng 1. Khái niệm tội hủy hoại rừng Việc làm rõ khái niệm tội hủy hoại rừng có ý nghĩa quan trọng về cả mặt lý luận và mặt thực tiễn, là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan lập pháp thống nhất nhận thức trong việc xây dựng và áp dụng đúng đắn các quy định về TNHS đối người thực hiện hành vi hủy hoại rừng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng và vai trò của rừng đối với sự phát triển thịnh vượng, lâu dài, vững chắc của đất nước, ngay sau khi gianh được độc lập, bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp nhằm đấu tranh, xử lý các hành vi xâm phạm, hủy hoại rừng. Tuy nhiên do tình hình đất nước chưa 6n định và trình độ lập pháp còn nhiều hạn chế nhất định nên công tác bảo vệ rừng thời kỳ này chưa đạt được hiệu quả cao. Tại BLHS năm 1985 — Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta, tinh cấp bách và tam quan trọng của việc đấu tranh, ngăn chặn tội phạm về môi trường và hủy hoại rừng chưa được thê hiện rõ, trong toàn văn BLHS năm 1985 chỉ có hai điều luật quy định trách nhiệm hình sự cho những hành vi gây hại đến môi trường và hành vi hủy hoại rừng, gồm: Điều 195 - Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng và Điều 181 - Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng. Tuy nhiên các tội này lại thuộc nhóm Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính và nhóm Các tội phạm về kinh tế.
Các tội phạm khác mặc dù có khách thé bị xâm phạm là môi trường va tài nguyên rừng nhưng không được nhóm thành một chương riêng mà chỉ được quy định lồng ghép trong các điều luật như: Điều 179 - Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng dat, trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, Điều 180 - Tội vi phạm các quy định về quan lý và bảo vệ đất đai đều thuộc Chương VII - Các tội phạm về kinh tế [17, tr. Theo Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “76i phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phat” [12, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Húy hoại là làm cho hư hỏng đi, pha di, cho tan nát” [19, tr. Rừng là một loại tài sản đặc biệt, vậy nên dé hiểu được hành vi hủy hoại rừng thì cần hiểu thế nào là hành vi hủy hoại tài sản.
Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, định nghĩa “Hủy hoại tài sản là cô ÿ làm cho tài sản mat giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại được, thông qua hành động như đập phá, đốt., hoặc không qua hành động như cô ý không tắt máy, ngắt điện khi có sự có dan đến máy bị hu hỏng hoàn toàn. Như vay, có thể hiểu, hủy hoại rừng là những hành vi cố ý đốt, chặt phá rừng, hoặc có những hành vi khác làm cho tải nguyên rừng, cây rừng, động vật rừng, đất rừng bị hư hỏng, bị chết hàng loạt, giảm về số lượng, diện tích và giá trị lâm sản. Từ những phân tích trên, có thê đưa ra khái niệm tội hủy hoại rừng như sau: “Tối hủy hoại rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý làm cho rừng giảm giá trị đáng kề hoặc làm mắt hoàn toàn giá trị của rừng, xâm phạm các quan hệ xã hội về bảo vệ rừng của Nhà nước, gây những thiệt hại cho môi trường sinh thai”. 10 Từ khái niệm trên, có thé nhận thay ngoài những đặc điểm của tội phạm nói chung thì tội hủy hoại rừng còn có những đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, tội huỷ hoại rừng là tổng hợp các hành vi có tính chất nguy hại đối với xã hội, làm tổn hại đến môi trường sinh thái, rừng và cuộc sống người dân, bao gồm những hành vi như cố tình chặt, phá rừng trái phép hoặc có các hành vi cố ý làm cho rừng bị huỷ hoại.
Tính nguy hiểm thé hiện ở việc các hành vi này gây ra các hậu quả nghiêm trọng về mặt môi trường sinh thái, làm mắt cân bằng sinh học, ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng, xâm phạm các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Thứ hai, thái độ tâm lý của chủ thê về hành vi phạm tội huỷ hoại rừng có thé biểu hiện dưới hình thức cố ý, có thé là có ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Thứ ba, các hành vi hủy hoại rừng có thé được thực hiện bởi bat cứ cá nhân nào có đầy đủ năng lực TNHS (kế cả chủ rừng trong trường hợp họ vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng trong khu vực do họ trồng hoặc được giao quản lý) hoặc được thực hiện bởi pháp nhân thương mại. Thứ tư, tội hủy hoại rừng được quy định cụ thể trong BLHS, chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm các quy định của BLHS thì mới được coi la tội phạm.
Do đó, chỉ những hành vi hủy hoại rừng nao được quy định trong BLHS thì mới được xem là tội phạm. Ngoài ra, những hành vi hủy hoại rùng không được quy định trong BLHS thì không phải tội phạm hủy hoại rừng va không phải chịu TNHS mà được xử lý bởi các chế tài xử lý khác như xử phạt hành chính, dân sự. Thứ năm, người thực hiện hành vi phạm tội hủy hoại rừng phải chịu TNHS với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm va hậu qua do hành vi gây ra khi đủ các yếu tố cau thành tội phạm được theo quy định của BLHS. Hình phạt với hành vi hủy hoại rừng cũng là hình thức mang tính cưỡng chế Nhà nước cao nhất trong dau tranh và phòng chống với loại hình phạm tội trên.
Khái niệm tội vi phạm quy định về quan lý rừng Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật được thượng tôn, mọi mối quan hệ trong xã hội đều được điều chỉnh bằng pháp luật. Do đó, để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước thì hệ thống pháp luật phải mạnh, có sức giáo dục, răn đe đối với người phạm tội. Sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự quản lý của Nhà nước, do đó để đảm đảm bảo sự 6n định, phát triển đúng theo trật tự và các mục tiêu của từng thời kỳ và xu thé chung của thé giới thì Nhà nước cũng đặt ra những chế tài nghiêm khắc dé trừng trị, răn đe những hành vi xâm phạm trật tự quản lý về kinh tế. Một trong những chế tài có tính răn đe cao nhất đó là việc quy định TNHS đối với những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có mức độ nguy hiểm cao, đe dọa đến sự phát triển và vận hành bình thường của nên kinh tế.
Tội vi phạm quy định về quản lý rừng được quy định tại Điều 233 thuộc Mục 3 các tội khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS năm 2015 có khách thể xâm phạm là trật tự quản lý kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên rừng, đất trồng rừng. Nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình đất nước dang trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế, tội vi phạm quy định về quản lý rừng đã được tách từ tội vi phạm các quy định và bảo vệ rừng tại Điều 181 BLHS năm 1985 dé trở thành một tội phạm độc lập tại Điều 176 BLHS năm 1999, qua đó quy định cụ thể, rõ ràng hơn các hành vi khách quan và quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2017) đã kế thừa và giữ nguyên tội vi phạm quy định về quản lý rừng là một tội phạm độc lập thuộc nhóm các tội về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Nhà nước. Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra định nghĩa một cách cụ thé về tội phạm này.
Tuy nhiên, thông qua việc phân tích nêu trên, có thê đưa ra khái niệm tội vi phạm 12 các quy định về quản lý rừng như sau: Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng, bao gom các hành vi vi phạm quy định về giao rừng, thu hoi đất rừng, cho phép chuyển mục dich sử dụng đất rừng, khai thác vận chuyển go. Ý nghĩa của việc quy định tội hủy hoại rừng và tội vi phạm qHy định về quản lý rừng Rừng có vai trò và tác động rất quan trọng đối với đời sống của con người và hệ sinh thái của trái đất, rừng giúp cân bằng hệ sinh thái, 6n định và điều hòa khí hậu, ngăn cản và hạn chế hậu quả của thiên tai. Bên cạnh đó, tài nguyên rừng còn mang lại giá trị kinh tế cao và là nguồn nguyên liệu quan trọng cho sản xuất công nghiệp, mang lại tiềm năng phát triển du lịch phục vụ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch của nhân dân. Hiện nay, sự chạy đua trong phát triển kinh tế dẫn đến môi trường sống của con người đã và ngày càng bị hủy hoại tram trọng, một trong những nguyên nhân chính là việc tan phá rừng gây suy giảm đa dạng sinh học, làm giảm diện tích rừng tự nhiên, giảm sự đa dang sinh quyền, gián tiếp gây ra những thảm hoa tự nhiên, thiên tai làm thiệt hại về người và tài sản.