CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về đậu nành Đậu nành thuộc chi Glycine, họ đậu Leguninosae, họ phụ cánh bướm Papilionoideae và bộ Phaseoleae, có tên khoa học là Glycine max (L) Merr. là cây trồng cạn, ngắn ngày có nguồn gốc từ Đông Á. Thân cây mảnh, cao từ 0.9m, có lông, cành hướng lên phía trên. Lá mọc cách, có 3 lá chét hình trái xoan, mũi lá gần nhọn không đều ở gốc.
Hoa có màu trắng hay tím xếp thành chùm ở nách cành. Quả thõng, hình lưỡi liềm, gân bị ép, trên quả có nhiều lông màu vàng, thắt lại ở giữa (Trần Văn Điền, 2007). Trên thế giới, đậu nành là cây trồng lấy hạt quan trọng, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô; tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ (trên 70%) tiếp đến là châu Á. Trong nước, đậu nành cũng là cây trồng phổ biến, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ, miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long.1 Đặc điểm của hạt đậu nành Hạt đậu nành có nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau như: hình tròn, hình bầu dục, tròn dẹt.; màu vàng, đỏ, xanh lục, nâu đen.
Trong đó, giống đậu nành màu vàng có giá trị thương phẩm cao. Kích thước của hạt cũng khác nhau tùy loại giống, trung bình có trọng lượng từ 150-300gram/1000 hạt. Hạt đậu nành gồm 3 bộ phận chính là: vỏ hạt, phôi và tử diệp (Trần Văn Điền, 2007). Chồi mầm Vỏ ngoài Trụ trên lá mầm Rốn hạt Tử diệp Lỗ noãn Trụ dưới lá mầm Rễ mầm Hình 1.1: Hạt đậu nành 4 1.1 Vỏ hạt Vỏ hạt đậu nành chiếm khoảng 8% tổng trọng lượng hạt với các thành phần được thể hiện ở bảng 1.1: Thành phần chính trong vỏ hạt đậu nành (trên 100g) Thành phần Số lượng Tham khảo Protein 9g Liu, 1997 Fat (total lipid) 21.0 g Liu, 1997 Carbohydrates 21 g Liu, 1997 Fiber 65 g Cole et al., 1999 Isoflavones 90-600 µg Phommalth et al., 2008 Trypsin inhibitors 44 mg/g Sessa & Wolf, 2001 Phytic acid 0.50 g/100g Lehrfeld, 1989; Sutardi & Buckle, 1985 Saponins 0 Anderson & Wolf, 1995 Isoflavones 0.20 mg/g Eldridge & Kwolek, 1983 Nguồn: Tổng hợp bởi O’Bryan và cộng sự (2014) Vỏ hạt có chức năng bảo vệ phôi và các thành phần bên trong, đảm bảo cho sự nẩy mầm của phôi, chúng gồm nhiều lớp tế bào, thể hiện ở hình 1.
Ngoài cùng là lớp sáp không ngấm nước. Kế tiếp là lớp tế bào rào, macrosclereids, các tế nào này có vách dày, thon dài và vuông góc với bề mặt của hạt, đóng vai trò quan trọng cho sự cứng chắc của vỏ hạt. Bên trong lớp tế bào rào là lớp tế bào đồng hồ cát (hourglass), osteosclereids, lớp tế bào này lớn hơn các lớp tế bào lân cận, khoảng gian bào rộng. Các tế bào có không bào lớn và chứa nhiều loại protein đặc biệt là peroxidase (5% tổng protein hòa tan) (Gijzen và cộng sự, 1993).
Cũng như các tế bào rào, vách tế bào đồng hồ cát cũng có vai trò trong tạo độ cứng chắc cho vỏ hạt. Tiếp giáp với lớp tế bào đồng hồ cát là nhu mô bên trong, hình thành bởi 6-8 lớp mỏng, các tế bào nhu mô được kéo dài, chúng phân bố đều khắp các vỏ hạt, 5 ngoại trừ ở rốn. Trong lớp hạt trưởng thành, khi phôi được mở rộng lớp nhu mô thường bị chèn ép (Miller và cộng sự, 1999). Ngay sau lớp nhu mô của vỏ hạt là lớp tế bào aleurone và lớp nhu mô của nội nhũ.2: Cấu trúc của vỏ hạt đậu nành (Carlson và Lersten, 1987) cut: lớp cu-tin; pal (palisade): tế bào rào; hyp: các tế bào đồng hồ cát (hourglass) của hạ bì; int sp: khoảng gian bào; par: tế bào nhu mô; al: tế bào aleurone; par end: tế bào nhu mô của nội nhũ.2 Phôi Phôi chiếm 2% trọng lượng hạt, chứa hai lá mầm, trụ trên lá mầm, trụ dưới lá mầm và rễ, có chức năng hấp thu dinh dưỡng và nẩy chồi.3 Tử diệp Tử diệp chiếm 90% trọng lượng hạt, hình thẳng tới hình ovan, chứa lượng protein và lipid cao nhất trong toàn hạt, có thể ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất và lượng nước trong phôi.
Tử diệp có chức năng dự trữ và cung cấp dinh dưỡng cho phôi.2 Thành phần hóa học của hạt đậu nành Đậu nành là loại hạt có hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu protein, glucid, lipid, muối khoáng và vitamin (Nguyễn Danh Đông, 1982; Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999).2: Thành phần hóa học của hạt đậu nành. Tỷ lệ Protein Lipid Tro Carbohydate Thành phần (%) (%) (%) (%) (%) Hạt đậu nành nguyên 100 40 20 4.9 35 Tử diệp 90 43 23 5 29 Vỏ hạt 8 8.4 43 Nguồn: Cheftel và cộng sự (1985) - Protein: hàm lượng protein trong hạt trung bình khoảng 40% với các loại acid amin cân đối, hơi thiếu methionine và tryptophane; trong thành phần protein đậu nành, globulin chiếm 85-95%, còn lại là albumin, prolamin và glutelin. - Glucid: chiếm khoảng 35% khối lượng khô của hạt, phần lớn là cellulose, hemicellulose, tinh bột và một lượng nhỏ đường. - Lipid: chiếm khoảng 20% khối lượng khô hạt, lipid của đậu nành chứa một tỉ lệ cao các acid béo không no (khoảng 60-70% lượng acid béo của hạt) gồm linoleic (52-65%), oleic (25-36%), linolenic (2-3%).
- Chất khoáng và vitamin: thành phần khoáng chiếm 5% trọng lượng khô của hạt. Trong đó đáng chú ý nhất là canxi, photpho, mangan, kẽm, sắt. Ngoài ra, còn có các vitamin quan trọng khác như PP, A, E, K, D, C. Với thành phần giàu các chất dinh dưỡng, hạt đậu nành chủ yếu được ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao như: sữa đậu nành, đậu hủ, tương, chao, dầu nành, sản xuất các chất phụ gia cho thực phẩm.
các phụ phẩm của ngành chế biến đậu nành được sử dụng làm thức ăn gia súc có giá trị dinh dưỡng khá cao.2 Chitin Chitin là polyme sinh học rất phổ biến và là nguồn tài nguyên tái tạo dồi dào nhất sau cellulose (Deshpande, 1986). Trong tự nhiên chitin tồn tại ở cả động vật, thực vật và vi sinh vật. Trong giới động vật, nó là thành phần cấu trúc quan trọng trong vỏ của hầu hết các động vật không xương sống như động vật chân đốt, thân mềm, giun đốt dưới dạng phức hợp với các thành phần khác như chất béo, canxi 7 cacbonate, protein và các chất màu, hàm lượng chiếm khá cao từ 14-35% trọng lượng khô (Joiles và Muzzaralli, 1999). Trong giới thực vật, chitin ít được tìm thấy, chỉ có ở một số tảo Chlorophiceae.
Ở vi sinh vật, chitin nằm trong thành tế bào của nấm sợi, nấm men và vi khuẩn (Hirano and Nagano, 1989; Wang, 1992). Trong nấm, chitin kết hợp với polysaccharide khác, chẳng hạn như cellulose, glucan, mannan và polygalactosamine.1 Cấu trúc phân tử Chitin (C8H13NO5)n là một polysaccharide mạch thẳng gồm các đơn vị là N- acetyl D-glucosamin liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4 glycoside (Cabib, 1987).3: Cấu trúc của chitin Về cấu trúc lập thể, chitin có 3 dạng: α, β, γ. Sự khác nhau này thể hiện ở cách sắp xếp các chuỗi. Chuỗi α-chitin xếp xuôi, ngược xen kẽ nhau, đây là dạng phổ biến nhất trong tự nhiên, nó có mặt trong vỏ tôm, cua, trong các loài nhuyễn thể, trong dây chằng cũng như biểu bì của các loại côn trùng; hiếm hơn là dạng β-chitin, các chuỗi sắp xếp theo một chiều nhất định, được tìm thấy trong protein của mực ống; còn γ -chitin thì rất hiếm, các cặp chuỗi xếp cùng chiều so le với một chuỗi ngược chiều trong cấu trúc (Đinh Minh Hiệp, 2001).
α-chitin β-chitin γ-chitin Hình 1.4: Trình tự sắp xếp các chuỗi của α, β, γ – chitin 8 1.2 Tính chất của chitin Trong tự nhiên, chitin tồn tại ở dạng tinh thể, là chất rắn màu trắng, không tan trong nước, dung dịch kiềm hoặc acid loãng, các dung môi hữu cơ như ete, rượu. và thuốc thử Schweitzer; nhưng có thể tan trong một số dung dịch như HCl đậm đặc, HNO3, acid fomic khan và một số muối trung tính.3 Ứng dụng của chitin Trong nông nghiệp, chitin và dẫn xuất của nó, chitosan, được sử dụng nhằm bảo vệ cây trồng, chống sâu bệnh; thúc đẩy chất đối kháng vi sinh vật, kiểm soát sinh học. Nó là chất cảm ứng tốt cho cơ chế phòng vệ thực vật, việc bổ sung chitin vào đất làm tăng mật độ của các vi sinh vật chứa enzym chitinase (chitinolytic organisms), phá hủy trứng và lớp biểu bì của tuyến trùng non có chitin trong thành phần của chúng (Gooday, 1990). Chitin cũng hỗ trợ các mối quan hệ cộng sinh có lợi thực vật-vi sinh vật; điều hòa sinh trưởng và phát triển thực vật, nó cũng được đánh giá là một loại phân bón sinh học có thể cải thiện năng suất cây trồng.
Trong công nghiệp, chitin có thể tạo lớp màng ăn được hoặc là chất phụ gia làm dày và ổn định thực phẩm, có thể tạo độ bền dai cho thực phẩm thay thế một số chất không cho phép như hàn the. Chitin cũng hoạt động như một chất kết dính trong vải nhuộm. Ngoài ra, xử lí nước thải cũng là một trong những ứng dụng quan trọng của chitin. Trong y học, chitin được sử dụng để làm chỉ phẫu thuật, miếng xốp phân hủy sinh học, băng; nó cũng được báo cáo là có một số tính chất khác thường đẩy nhanh lành vết thương ở người.
Oligosaccharide chitin, là các đoạn mạch ngắn của chitin, được báo cáo là có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, hạ huyết áp, thuốc chống ung thư (Patil và cộng sự, 2000, Purwani và cộng sự, 2004). Các đơn phân của chitin là N-acetyl-D-glucosamine (GlcNAc) và glucosamine (GlcN), là những tác nhân chữa bệnh viêm khớp xương mãn tính, viêm ruột và viêm dạ dày. Trong hóa sinh, chitin được sử dụng làm chất mang trong cố định enzyme hay cố định tế bào (Trần Đình Toại và cộng sự, 2008).3 Enzyme chitinase (EC 3.1 Định nghĩa Chitinase [poly β-1,4-(2-acetamido-2-deoxy)-D-glucosid glucanohydrolase] thuộc nhóm enzyme hydrolase, xúc tác cho quá trình thủy phân chitin thành các chitobiose hay chitotriose thông qua việc phân cắt liên kết β-1,4-glycoside giữa C1 và C4 của hai phân tử N-acetylglucosamine trong chitin.5: Vị trí phân cắt của enzym chitinase Chitinase được tạo ra từ nhiều sinh vật, từ những loài có thành phần cấu trúc là chitin đến những loài không có chitin. Ở những sinh vật chứa chitin, chitinase đóng vai trò chính trong quá trình phát sinh hình thái và phân chia tế bào.
Vi khuẩn tổng hợp chitinase để phân giải chitin tạo ra nguồn carbon. Ở thực vật và động vật, chitinase nằm trong hệ thống chống lại các tác nhân gây bệnh như nấm bằng cách phá vỡ thành tế bào chứa chitin của nấm. Chân khớp và nấm, chitinase có vai trò trong sự phân chia tế bào để tăng trưởng và được tạo thành trong suốt quá trình sinh trưởng của nấm.