ĐẶT VẤN ĐỀ Cây chè xanh là loại cây trồng phổ biến trên thế giới. Việt Nam là một trong những nước có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ở Việt Nam hiện nay chỉ quan tâm khai thác lá chè, ngành sản xuất chè lá tại Việt Nam khá phát triển. Tuy nhiên, ngoài lá chè, hiện nay trên thế giới đã quan tâm khai thác một bộ phận khác của cây chè, đó là hạt chè.
Dầu từ hạt chè xanh có hàm lượng chất béo bão hòa rất thấp, chỉ khoảng 10,5%, giàu hàm lượng các acid béo không no cần thiết như: oleic acid, linoleic acid, linolenic acid,…Ngoài ra, trong thành phần dầu hạt chè xanh có chứa hàm lượng cao các chất chống oxi hóa như vitamin E, các hợp chất polyphenol catechin, đặc biệt là hợp chất Epigallocatechin Gallate (EGCG) là một chất chống oxi hóa cực mạnh bảo vệ các tế bào khỏi tác hại của các gốc tự do. Ở Việt Nam, hạt chè chưa được khai thác và nghiên cứu, đây là sự lãng phí nguồn nguyên liệu tiềm năng cho ngành sản xuất dầu, tăng lợi nhuận kinh tế cho ngành trồng chè. Vì vậy việc nghiên cứu khai thác dầu từ hạt chè sẽ nâng cao giá trị sử dụng cây chè, tăng lợi nhuận cho ngành trồng chè, đưa ra nguồn nguyên liệu mới giàu tiềm năng cho ngành sản xuất dầu, khả năng ứng dụng vào các ngành khác như: mỹ phẩm, thực phẩm chức năng. Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu nhận dầu hạt chè, cụ thể là khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng vitamin E trong dầu hạt chè thu được, bên cạnh đó cũng khảo sát hàm lượng các hợp chất polyphenol trong bã hạt chè sau khi thu nhận dầu.
Mặc dù trên thế giới cũng đã có một số nghiên cứu khác về dầu hạt chè nhưng trong nghiên cứu này với đối tượng là giống chè tại bản địa, chúng tôi mong muốn đưa ra một góc nhìn mới, một giá trị mới trong quá trình khai thác cây chè tại Việt Nam.1 Giới thiệu về cây chè Năm 1753, Cac Vôn Linê (Carl Von Lenne), nhà thực vật học Thụy Điển đã thu thập, phân loại các mẫu chè giống ở Trung Quốc, và lần đầu tiên đặt tên khoa học cây chè là Thea sinensis, phân thành 2 giống chè : Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh), như vậy đã xác nhận Trung Quốc là nơi ra đời của cây chè. Cho đến 1975, lần lượt đã có 5 thuyết là: Thuyết Trung Quốc, thuyết Ấn Độ, thuyết 2 nguồn gốc, thuyết chiết trung và thuyết Việt Nam nói về nguồn gốc cây chè. Hiện nay thuyết chiết trung được nhiều người ủng hộ. Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc) đưa ra thuyết chiết trung được nhiều học giả thế giới công nhận.
Theo thuyết này, cái nôi tự nhiên cây chè là ở khu vực gió mùa Đông Nam Á, vì ở Lào, Mianma, Vân Nam và bắc Việt Nam đều có những cây chè hoang dại. Các điều kiện đất đai, khí hậu, lượng mưa của cả khu vực này đều rất thích hợp với sinh trưởng của cây chè, hợp thành một vườn chè nguyên thủy. Hơn nữa các cây chè mọc hoang dại tìm thấy rất nhiều dọc 2 bờ các con sông lớn : Kim Sa Giang, Phú Long Giang, Salouen, Irravadi, Mê Kông, Bramapoutro… Các con sông này đều bắt nguồn từ dãy núi phía nam cao nguyên Tây Tạng. Cho nên vùng nguyên sản cây chè là vùng núi ở cao nguyên Tây Tạng.
Cây chè di thực về phía đông qua tỉnh Tứ Xuyên, bị ảnh hưởng của khí hậu, nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía nam và tây nam là Ấn Độ, Mianma, Annam (Việt Nam) biến thành giống lá to.Werkhoven, Hà Lan) chuyên viên của tổ chức Lương thực thế giới FAO, đã tổng kết trong cuốn Công nghệ chè (Tập san Nông nghiệp 26, Rôma,1974): “Cây chè được Linne xếp loại và đặt tên là Thea sinensis (L.) có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Trung Quốc gần nguồn sông Irrawadi (Mianma)”.1 Phân loại thực vật Ngành Hạt kín Angiospermae Lớp Song tử điệp Dicotylednae Bộ Chè Theales Họ Chè Theaceae Chi Chè Camellia (Thea) Loài Chè C.Sinensis Tên khoa học: Camellia Sinensis (L) (hay Thea sinensis L.2 Giới thiệu về giống chè bản địa Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông Nam Á, cái nôi của cây chè. Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Lượng nước mưa dồi dào 1700-2000 mm/năm, nhiệt độ 21-22.6 0C, ẩm độ không khí 80-85 %. Đất đai trồng trà gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ.
Theo phân loại của nhà phân loại thực vật Hà Lan Cohen Stuart (1918) và nhà nông học Pháp Du Pasquier (1923), có 4 giống chè có mặt ở Việt Nam, bao gồm: − Chine microphylla (chè Trung Quốc lá nhỏ) − Chine macrophylla (chè Trung Quốc lá to) − Assamica (chè Ấn Độ) − Shan (chè Shan tuyết) Chine microphylla còn gọi là chè Trung Quốc lá nhỏ, cây bụi nhỏ, chịu rét, có ở Liên xô, Nhật bản, Trung quốc, Việt nam. Chine macrophylla còn gọi là chè Trung Quốc lá to, cây có thể cao đến 10 mét, có ở Trung Quốc, Việt Nam. Chè Shan, cây cao có thể đến 20 mét, búp có lông trắng nên gọi là chè Shan Tuyết, có ở Mộc Châu, Yên bái, Hoà Bình, Trung quốc, Miến điện. Chè Assamica còn gọi là chè Ấn độ, cây có ở Ấn độ, Việt Nam, do Pháp mang qua trồng ở Cầu Đất (Lâm Đồng)… Diện tích trồng chè cả nước đến năm 2011 đã lên đến 113 000 ha phân bố chủ yếu ở các vùng trồng chè lớn như: − Vùng chè Tây Bắc, vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn (Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, − Vùng chè Trung du Bắc Bộ (Phú Thọ, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Thái Nguyên, Hà Tây và Hà Nội) − Vùng chè Bắc Trung Bộ (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) − Vùng chè Tây Nguyên (Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum) − Vùng chè duyên hải miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi) Theo dự kiến thì diện tích trồng chè ở nước ta sẽ tăng lên thành 150.
Trong đó, tổng diện tích chè trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng có trên 26.000 ha thu hoạch. Sản lượng thu hoạch năm 2010 đạt trên 140 ngàn tấn búp tươi, sản lượng chè thành phẩm đạt trên 30 ngàn tấn (cao nhất Việt Nam), chiếm tỷ lệ 25% về diện tích và 27% về sản lượng chè của cả nước. Cây chè của Lâm Đồng được trồng ở nhiều địa phương, nhưng tập trung chủ yếu ở thành phố Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Theo kết quả điều tra, 1 cây chè có thể cho 3kg hạt chè/ năm, 1 ha chè có thể cho đến 10 tấn quả chè/ năm.
Như vậy với diện tích trồng chè 125 nghìn ha (số liệu thống kê năm 2008) có thể cho sản lượng quả chè lên đến 1. Hiện nay, lượng quả chè này chưa được sử dụng vào bất kỳ mục đích kinh tế nào. Vì vậy, nếu lượng quả chè này được nghiên cứu sử dụng thì sẽ mang lại lợi nhuận cho người nông dân nói riêng và ngành chè Việt Nam nói chung.2 Cấu tạo chung của hạtt chè Quả chè loại nang có 1-- 4 hạt, thường là 2, 3 hạt. Thông thường, g, quả chè Camellia Sinensis có từ 2-4 hạt, còn hạt ạt cchè Camellia Oleifera thường có 1 hạt.
Hình tròn, tam giác hay vuông tùy số lượng hạt bên ên trong, vỏ quả màu xanh, khi chín chuyển ển sang màu nâu rồi nứt ra. Hạt chè có vỏ sành màu nnâu, ít khi đen, hạt to nhỏ tùy giống chè, è, và v chế độ dinh dưỡng, đường kính từ 10 – 15m 15mm, hạt hình cầu, bán cầu hay tam giác. Trọng Tr lượng 0.0g/hạt, trung bình 1- 1. Ở Việt Nam giống chè Shan to và nặng, g, giống giốn chè Ấn Độ hạt nhỏ và nhẹ.
Vỏ sành rất ất cứn cứng do 6-7 lớp thạch bào cấu tạo thành, màu phớt p đỏ khi hạt non và nâu đen khi hạt chín, hín, bbên trong là một vỏ lụa mỏng, màu nâu, u, có nhiều n gân làm nhiệm vụ vận chuyển nước vàà cchất dinh dưỡng để nuôi hạt. Nhân chè gồm ồm hai lá mầm và phôi chè, lá mầm to và nặng ng tới 3/4 trọng lượng hạt, là nơi dự trữ dinh dưỡn ỡng. Hạt chè xuất hiện khi nh những bông hoa chè bắt đầu tàn, khoảng tháng 10, 11 là thời gian những hạt giống trưởng ng thà thành sau sự tăng trưởng. (a) Hoa chè; (b) Quả chè tươi; (c) Quả chè khô; (d)) Hạt H chè; (e) Nhân hạtt ch chè còn vỏ lụa; (f) Nhân hạt đã bóc vỏ lụa 1.3 Thành phần hóa học củaa h hạt chè: Bảng 1.1: B Bảng thành phần acid béo trong hạt chè: Thành phần ần aacid béo Hàm lượng (%) Acid béo không no C18:1 75.03 Acid béo no C14:0 0.4 Giá trị sinh học của hạt chè Giá trị sinh học của hạt chè thể hiện qua sự có mặt của các chất chống oxi hóa trong thành phần hạt.
Các chất chống oxi hóa này chia làm 2 loại: tan trong nước và tan trong dầu. Theo nghiên cứu của Fazel và cộng sự (2008), thành phần các chống oxi hóa chủ yếu tan trong dầu bao gồm: β-caroten, vitamin E. 2 thành phần này tồn tại trong dầu hạt chè với hàm lượng tương đối cao, lần lượt là 251. Do hàm lượng β-caroten, vitamin E cao như vậy dẫn đến dầu hạt chè có khả năng chống oxi hóa cao hơn hẳn một số loại dầu khác.
Ngoài ra, khi thêm dầu hạt chè vào dầu kilka với tỷ lệ 5% và 10% (1 loại dầu dễ bị oxi hóa), dầu hạt chè cũng làm gia tăng tính kháng oxi hóa của loại dầu này. Cũng theo nghiên cứu của Fazel thì vitamin E trong dầu hạt chè tồn tại ở các dạng: α-tocopherol, γ-tocopherol, δ-tocopherol, α-tocotrienol, β-tocotrienol và γ-tocotrienol, trong đó dạng tồn tại chủ yếu của vitamin E trong dầu hạt chè là α-tocopherol. Ngoài ra, trong hạt chè còn có 1 thành phần khác cũng có giá trị sinh học cao, đó là polyphenol. Tuy nhiên, polyphenol là chất chủ yếu tan trong pha nước nên khi thu nhận dầu hạt chè, hàm lượng polyphenol trích ly được theo pha dầu cũng không nhiều.
Theo nghiên cứu của Fazel, thành phần polyphenol trong dầu hạt chè rất đa dạng, bao gồm: gallocatechin, catechin, epigallocatechin gallate, epicatechin, gallocatechin gallate, catechin gallate,… Trong đó, thành phần chủ yếu là catechin (hàm lượng 65.21 mg/kg) và epigallocatechin (hàm lượng 120.1 Vitamin E Khái niệm và phân loại Vitamin E là một trong các vitamin hòa tan trong môi trường chất béo có hoạt tính sinh học cao. Vai trò chính của vitamin E: - Là một chất chống oxy hóa. - Bảo vệ màng tế bào. - Tăng cường hệ thống miễn dịch.
- Điều hòa kết tập tiểu cầu.