CHƯƠNG I. Giới thiệu về cây táo mèo [1,2,3] Tên khoa học: Docynia indica (Wall. Tên thường gọi: Táo mèo, chi tô di Phân loại thực vật Giới : Thực vật (Plantae). Họ : Hoa hồng (Rosaceae).
Phân họ : Maloideae. Loài : Táo mèo (Docynia indica (Wall.) Theo hệ thống phân loại thực vật thì táo mèo thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), phân họ Maloideae và thuộc chi Docynia. Đặc điểm hình thái Hình 1. Quả và lá loài táo mèo Docynia indica (Wall.
Cây nhỡ cao 5-6 m, cây non cành có gai. Lá mọc so le, ở cây non xẻ 3-5 thuỳ, mép có răng cưa không đều. Ở thời kỳ cây trưởng thành lá hình bầu dục dài 6-10cm, rộng 2-4cm, mép nguyên hoặc hơi khía răng ở gần đầu lá. Hoa họp từ 1-3 hoa ở kẽ lá, cánh hoa màu trắng, có lông màu trắng bạc.
Quả hình cầu thuôn, đường kính 3-4cm, lúc non có lông, sau nhẵn, khi chín có màu vàng lục, có vị hơi chua chát [1,3]. Mùa hoa tháng 3-4, mùa quả chín từ tháng 8-10. Cây được gieo trồng bằng hạt, chồi hoặc chiết cành. Cây ưa sáng, mọc rải rác trong rừng hoặc thành quần thể ven đồi, ở độ cao 1000-1500m [1,3].
Vài nét về họ Hoa hồng (Rosaceae) Họ Hoa hồng (danh pháp khoa học: Rosaceae) là một họ lớn trong thực vật, với khoảng 2.000 loài trong khoảng 90-120 chi, tùy theo hệ thống phân loại. Hiện tại hệ thống APG II (hệ thống phân loại sinh học thực vật hiện đại dựa trên việc phân tích phân tử năm 2003) công nhận họ Rosaceae có 2.520 loài thuộc 90 chi [2] Theo truyền thống họ hoa hồng được chia thành 4 phân họ: Rosoideae, Spiraeoideae, Maloideae, Amygdaloideae. Các phân họ này được miêu tả đặc trưng chủ yếu theo cấu trúc của trái cây: - Phân họ Hoa hồng (Rosoideae): Theo truyền thống bao gồm các chi có quả nhỏ, là dạng quả bế hay quả hạch nhỏ và thường có phần cùi thịt của quả (ví dụ dâu tây) hay cuống mang các lá noãn - Phân họ Thuỷ bia (Spiraeoideae): Theo truyền thống bao gồm các chi với quả không có cùi thịt bao gồm 5 lá noãn - Phân họ Táo tây (Maloideae): Theo truyền thống bao gồm các chi (như táo tây, sơn tra, lê, mộc qua, thanh hương trà v.v), với quả bao gồm 5 lá noãn trong vỏ quả trong dày cùi thịt, được bao quanh bằng mô cuống chín - Phân họ Mận (Amygdaloideae) hay (Prunoideae): Theo truyền thống bao gồm các chi với quả là quả hạch đơn có đường nối, hai gân cạnh đường nối và một gân đối diện đường nối. Ở Việt Nam, theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (Cây Cỏ Việt Nam) họ hoa hồng hiện có 172 loài chính thuộc 23 chi [2].
Vài nét về chi Táo mèo (Docynia) Chi Docynia là một chi thực vật có hoa trong họ Rosaceae. Chi này bao gồm các loài cây gỗ xanh; nụ hình trứng, nhỏ, với vài vảy phô ra. Các lá đơn, mọc so le, có lá kèm, có cuống lá, gân lá thứ cấp uốn cong về phía mép lá, mép lá nguyên hay khía răng cưa, đôi khi phân thùy nhỏ. Hoa có cuống ngắn, mọc thành chùm 2–5, sớm kết trái hay có các nhị hợp nhất bởi các bao phấn; lá bắc nhỏ, sớm rụng.
Đế hoa hình chuông, có lông măng rậm ở phía xa trục. Cánh hoa 5, trắng, gốc có vuốt ngắn. Nhị hoa 30–50, 2 vòng. Bầu nhụy hạ, 5 ngăn, với 3–10 noãn mỗi ngăn; vòi nhụy 5, hợp sinh tại gốc, có lông tơ.
Quả dạng quả táo hình phỏng cầu hay hình trứng hoặc hình quả lê, đường kính 2–3 cm, với các lá đài bền mọc thẳng hay uốn cong vào trong. Chúng thụ phấn nhờ côn trùng [2]. luan an 5 Theo Phạm Hoàng Hộ, chi Docynia chỉ có 2 loài là: Docynia indica (Wall.) Decne, ở Việt Nam còn được gọi là táo mèo và loài Docynia delavayi (Franch. Loài Docynia indica (Wall.) Decne Phân bố rộng ở một số quốc gia như Ấn Độ, Bhutan, Myanma, Nepal, Pakistan, Thái Lan, tây nam Trung Quốc và Việt Nam.
Ở nước ta, loài này tập trung chủ yếu ở các Tỉnh vùng núi Tây Bắc như Sơn La, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang…Trong khi đó loài Docynia delavayi (Franch. xuất hiện ở tây Quý Châu, tây Tứ Xuyên, đông bắc Vân Nam của Trung Quốc; Ở Việt Nam theo Phạm Hoàng Hộ, Võ Văn Chi thì chưa thấy xuất hiện loài này [2,3]. Phân bố và sản lượng táo mèo ở một số tỉnh trọng điểm nước ta (nguồn: https://dantocmiennui.vn/son-la-vai-net-tong-quan/131032. Diện tích táo mèo tập trung tại một số huyện thuộc ba Tỉnh Yên Bái, Sơn La và Điện Biên Táo mèo (Docynia indica) phân bố ở các tỉnh vùng núi phía Bắc việt Nam như Sơn La, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang… Tuy nhiên diện tích trồng và cho sản lượng táo mèo lớn nhất tập trung chủ yếu tại ba tỉnh là Yên Bái, Sơn La và Điện Biên.
Theo số liệu thống kê năm 2011 của các sở Nông nghiệp phát triển nông thôn của ba Tỉnh Yên Bái, Sơn La và Điện Biên, tổng diện tích trồng và tự nhiên cây táo mèo của ba tỉnh này khoảng 3200 hecta với tổng sản lượng hàng năm khoảng 6500 luan an 6 tấn. Ước tính mỗi hecta cho 2 tấn quả trên 1 năm. Trong đó diện tích táo mèo tại Yên Bái là lớn nhất khoảng 2000 hecta, tiếp đến là Sơn La với diện tích là 1000 hecta, cuối cùng là Điện Biên với diện tích gần 300 hecta. Sản lượng táo mèo hàng năm của Yên Bái đạt khoảng 4000 tấn, tại Sơn La đạt 2000 tấn và tại Điện Biên đạt khoảng 500 tấn.
Những năm gần đây, diện tích táo mèo ở các tỉnh nêu trên tiếp tục được mở rộng rất nhiều cùng với đó là sản lượng táo mèo cũng tăng cao [4]. Cụ thể, Ở tỉnh Yên Bái, việc trồng và phát triển cây táo mèo tập trung chính tạo 2 huyện là Mù Cang Chải và Trạm Tấu. Trong đó, Mù Cang Chải có diện tích trồng táo mèo là 1490 hectra còn Trạm Tấu có diện tích trồng téo mèo là 440 hecta. Qua số liệu thống kê có thể thấy, Mù Cang Chải là địa phương cung cấp sản lượng táo mèo chủ yếu của Yên Bái, chiếm khoảng 75% tổng sản lượng của tỉnh.
Cũng theo số liệu thu thập năm 2018 của sở Nông nghiệp và nông thôn Yên Bái, tỉnh đã trồng mới thêm được 2.250 hecta nâng tổng diện tích táo mèo của tỉnh lên hơn 4000 hecta [4]. Tại tỉnh Sơn La, táo mèo được trồng và phát triển chủ yếu tập trung tại các huyện là Bắc Yên, Thuận Châu và Mường La. Tổng diện tích khoảng 1000 hecta và sản lượng hàng năm đạt gần 2300 tấn/năm (khoảng 2,3 tấn/hecta). Về sản lượng thì Bắc Yên chiếm lớn nhất, tại Bắc Yên táo mèo cũng được chế biến và tiêu thụ nhiều nhất trong ba huyện của Sơn La, tiếp đến là Mường La và Thuận Châu.
theo số liệu thu thập mới nhất năm 2018 của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sơn La, diện tích táo mèo ở tỉnh này đã đạt tới 11000 hecta [4]. Ở Điện Biên, theo số liệu thu thập năm 2011, táo mèo được trồng và phát triển chủ yếu ở Tuần Giáo, cụ thể ở hai xã là Tỏa Tình và Tênh Phông. So với hai tỉnh Sơn La và Yên Bái thì Điện Biên có diện tích trồng và phát triển táo mèo là nhỏ nhất. Tổng diện tích táo mèo tại Điện Biên là 270 hecta, trong đó 150 hecta thuộc xã Tỏa Tình và 120 hecta thuộc xã Tênh Phông.
Tổng sản lượng táo mèo hàng năm của Điện Biên ước đạt khoảng 500 tấn. Theo số liệu thu thập được từ báo cáo của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Điện Biên năm 2018, diện tích trồng táo mèo ở Điện Biên không tăng lên đáng kể, chủ yếu vẫn chỉ tập trung ở 2 xã Tỏa Tình và Tênh Phong của Huyện Tuần Giáo [4]. Thành phần hóa học của táo mèo 1. Các thành phần hóa học cơ bản.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Lụa và cộng sự (2013, 2014), các thành phần hóa học cơ bản của quả táo mèo ở Việt Nam đã được phân tích, đánh giá đầy đủ [4,5]. Các mẫu táo mèo khảo sát được thu tại 3 địa phương là Yên Bái, Sơn luan an 7 La và Điện Biên. Quả táo mèo được xác định gồm nhiều thành phần hóa học như chất đạm, chất béo, chất khoáng, axit hữu cơ, axit amin và một số vitamin. Các kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng 1.
Hàm lượng các thành phần hóa học trong quả táo mèo TT Thành phần hóa học Đơn vị tính Hàm lượng 1 Chất đạm g/100 g quả tươi 0.52 2 Chất béo g/100 g quả tươi 0.28 3 Đường tổng g/100 g quả tươi 5.90 4 Phenolic tổng mg GAE/g quả khô 18.29 6 Tro toàn phần % 2.34 7 Vitamin C mg/100g quả tươi 19.91 8 Beta-carotene µg/100g quả tươi 25.0 9 Khoáng Ca mg/100g quả tươi 15.88 10 Khoáng Fe mg/100g quả tươi 0.23 11 Khoáng P mg/100g quả tươi 17. Các hợp chất chuyển hóa thứ cấp được phân lập từ quả táo mèo Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam cho đến nay, đã có một số công trình công bố về thành phần hóa học về quả táo mèo. Công trình của tác giả Đỗ Thị Hà công bố về thành phần hóa học của phân đoạn n-hexan của chiết xuất quả táo mèo, từ phân đoạn này đã tìm thấy 3 hợp chất là 1-octacosanol (1), 3-tetracosen (2), β-sitosterol (3) [6]. Công trình của tác giả Vũ Văn Tuấn đã phân lập được 3 hợp chất là chlorogenic acid (4), quercetin (5) và quercetin-3-O-β-D galactopyranoside (6) từ cao chiết phân đoạn ethylacetate [7].
Năm 2016, nhóm tác giả Hoàng Việt Dũng và cộng sự đã công bố 13 hợp chất được phân lập từ dịch chiết quả táo mèo gồm có: Docynicasides A (7), docynicasides B (8), docynicasides C (9), (6S,9R)-vomifoliol 9-O-β-D-xylopyranosyl-(1’’6’)-O-β-D- glucopyranoside (10), hyperin (6), quercitrin (11), quercetin 3-α-L-arabinofuranoside (12), naringenin 7-O-β-D-glucopyranoside (13), phloridzin (14), phloretin 2’-O-β-D- xylopyranosyl-(16)-β-D-glucopyranoside (15), pinosylvin 3-O-β-D-glucopyranoside (16), tormentic acid (17), and chlorogenic acid methyl ester (18) Trong đó 3 hợp chất mới là docynicasides A (7), docynicasides B (8) và docynicasides C (9) [8]. Các nghiên cứu hóa học trong nước về loài Docynia indica (Wall.) Decne được nghiên cứu sinh tổng kết lại ở bảng 1.1 theo trình tự thời gian nghiên cứu luan an 8 Bảng 1. Danh sách các hợp chất được phân lập từ loài Docynia indica (Wall.