Mở đầu (3 trang) Chƣơng 1: Tổng quan (7 trang) Chƣơng 2: Nguyên liệu và phƣơng pháp nghiên cứu (22 trang) Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận (24 trang) Kết luận và kiến nghị (1 trang) Tài liệu tham khảo (3 trang) 3 Luan van CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU VỀ HỌ BẰNG LĂNG VÀ CHI TỬ VI 1. Họ Bằng Lăng Họ Bằng Lăng (hay Tử vi, Tƣờng vi) là một họ khá lớn có tên khoa học là Lythraceae, bao gồm trên 500 loài thuộc 32 chi, đa số là cây thân thảo và một số cây thân bụi hoặc cây thân gỗ. Các thực vật họ Lythraceae phân bố khắp toàn cầu.Vùng nhiệt đới là khí hậu “ƣa thích” của loài này, tuy nhiên chúng cũng sinh sống tốt trong các khu vực có khí hậu ôn đới [4].
Thực vật chi Tử vi Chi Tử vi (tên khoa học: Lagerstroemia) có khoảng 50 loài. Cây thân gỗ hay cây bụi, có nguồn gốc ở vùng Đông Á và Australia.Thân cây giống nhƣ gân tạo nếp máng, hàng năm đều lột vỏ. Lá mọc đối, đơn và có chiều dài khoảng 5-20 cm. Hoa mọc thành những cụm dài từ 20-40 cm, có màu trắng, hồng hoặc tím; cây nở hoa từ giữa mùa hè đến cuối hè.
Quả là dạng quả nang, ban đầu có màu xanh lục, khi chín chuyển thành màu đen, đƣợc mở rộng theo 6 hoặc 7 đƣờng, tạo ra các răng giống nhƣ đài hoa và giải phóng nhiều hạt nhỏ có cánh. Ở nƣớc ta, chi Tử vi là một chi thảo mộc khá lớn, mọc nhiều nhất ở các rừng Đông Nam Bộ[2,3]. ĐẠI CƢƠNG VỀ CÂY BẰNG LĂNG NƢỚC 1. Tên gọi Tên khoa học: Lagerstroemia speciosa L.
Tên thông thƣờng: Bằng Lăng nƣớc, Bằng Lăng tím. Theo phân loại thực vật: - Giới: Thực vật (Plantae) - Bộ: Đào kim nƣơng (Myrtales) Hình 1. cây Bằng lăng nước 4 Luan van - Họ: Bằng Lăng (Lythraceae) - Chi: Tử vi (Lagerstroemia) [2, 6 ,7]. Mô tả thực vật Bằng Lăng nƣớc có thân cây thẳng và khá nhẵn nhụi.
Lá màu xanh lục, dài khoảng từ 8 đến 15 cm, rộng từ 3 đến 7 cm, hình oval hoặc elip, lá rụng theo mùa. Hoa màu tím hoặc tím nhạt, mọc thành cụm dài từ 20 đến 40 cm, thƣờng thấy vào giữa mùa hè. Mỗi bông hoa có 6 cánh, mỗi cánh dài chừng 2 đến 3,5 cm. Quả lúc tƣơi màu tím nhạt pha xanh lục, mềm.
Quả già có đƣờng kính 1,5 đến 2 cm, khô trên cây. Hoa, lá, quả già và lá khô của cây Bằng Lăng nước 1. Phân bố và cách trồng Bằng Lăng nƣớc có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Á, hiện có nhiều ở Đông Nam Á, Ấn Độ và các vùng nhiệt đới khác. Đây là loại cây thƣờng sinh sống chủ yếu 5 Luan van trong những kiểu rừng khô rụng lá, nửa rụng lá.
Cây đòi hỏi có độ đất dày, sâu và có độ ẩm cao. Bên cạnh đó, Bằng Lăng nƣớc còn là cây đạt biên độ sinh thái khá rộng, thƣờng hay mọc tại ven hồ, ven sông suối, ven các đầm nƣớc ngọt. Cây thƣờng phân bố tại những nơi có độ cao không quá 700m trên mực biển. Ở Việt Nam, Bằng Lăng nƣớc là loại cây mọc hoang.
Cây thƣờng phân bố chủ yếu ở những tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ nhƣ Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình. Một số tỉnh ở khu vực Tây Nguyên nhƣ Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum cũng bắt gặp cây Bằng Lăng nƣớc sinh sống và phát triển. Cây đƣợc trồng vào đầu mùa mƣa (tháng 5,6) và đƣợc trồng dặm trƣớc tháng 9 hàng năm. Đất trồng cây Bằng Lăng nƣớc phải có tầng đất mặt tơi xốp, dễ thoát nƣớc, nếu đất có độ pH thấp, cần bón thêm vôi.
Trƣớc khi trồng tiến hành đào hố trƣớc ít nhất 1 tháng, kích thƣớc hố và lƣợng phân bón lót tùy thuộc vào đất giàu hoặc nghèo dinh dƣỡng, thông thƣờng là 50 x 50 x 50cm, trộn đều lớp đất mặt với phân hữu cơ, NPK, phân bón lót, phân lân, vôi. sau đó cho hỗn hợp đất phân xuống hố. Công việc trên cần thực hiện trƣớc khi trồng cây ít nhất nửa tháng. Mật độ trồng thích hợp từ 500 đến 834 cây/ha.
Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4m, hoặc cây cách cây 4m, hàng cách hàng 5m. Sau khi trồng cần làm cỏ, xới đất kết hợp tủ gốc giữ ẩm cho cây 4-5 lần/năm.Trong 3 năm đầu khi cây chƣa kép tán cần trồng thêm cây che bóng giữa các hàng để bảo vệ đất, nhằm tăng cƣờng chất hữu cơ và giảm công làm cỏ. Lƣợng phân bón trong 3 năm đầu nhƣ sau: phân chuồng 5-10kg, phân NPK 150g/gốc/năm. Các năm sau tăng dần lƣợng phân lên, nên bón phân vào lúc làm cỏ và vun gốc vào đầu, giữa và cuối mùa mƣa.
GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY BĂNG LĂNG NƢỚC 1. Dùng làm thuốc chữa bệnh Bằng Lăng nƣớc đã đƣợc dùng trong Y học dân gian ở Châu Mỹ, Ấn Độ, Philippines,.để trị bệnh đái tháo đƣờng và khá nhiều bệnh khác nhƣ trị ỉa chảy, tim 6 Luan van mạch, mụn nhọt. Trong Y học cổ truyền châu Á, ngƣời ta sử dụng lá Bằng Lăng nƣớc làm trà uống hàng ngày để trị đau dạ dày và kiểm soát mức đƣờng huyết. Các chất trích ly đƣợc thƣơng mại hóa đôi khi cũng đƣợc dùng làm giảm mỡ, chống béo phì [8].
Tác dụng dƣợc lý Dƣợc liệu này chứa ancaloit, flavonoit, saponin và cumarin. Tanin trong vỏ với hàm lƣợng 30%, chủ yếu là catechin (23%) và một lƣợng nhỏ tanin gallickhoảng 7%. Vỏ Bằng Lăng nƣớc đã đƣợc nghiên cứu dƣợc lý với kết quả là cao lỏng của vỏ có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn [9] Shigella shigae, Bacillus subtilis, Shigella flexneri, Salmonella typhi, Escherichia coli, Staphylloccus aures. Cao này có tác dụng chống một số nấm bệnh ngoài da nhƣ Epidermophyton inguinale, Trichophuton rubrum và Cadida albicans.
Lá và quả già loài Bằng Lăng nƣớc chứa axit corosolic ở hàm lƣợng cao (axit corosolic đƣợc cho là hoạt chất chính làm hạ mức đƣờng huyết) [10] 1. Trồng làm cảnh Ở Việt Nam và một số nƣớc châu Á, Bằng Lăng nƣớc đƣợc trồng để tạo mỹ quan đô thị. Trong tự nhiên, ngoài Bằng Lăng có hoa tím còn có hoa các màu đậm, nhạt, trắng, hồng, đỏ,. Vào cuối thu nhiều giống cũng rụng lá vàng, lá đỏ nhƣ cây phong xứ lạnh.
NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HỌ BẰNG LĂNG 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có một số các công trình nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh đái tháo đƣờng của một số thành phần có trong cây Bằng Lăng nƣớc nhƣ công trình của Kakura, Garcia và một nhóm các nhà khoa học thuộc trƣờng đại học Hirosima, Nhật Bản v. Đầu năm 1940, Garcia đã công bố những nghiên cứu đầu tiên của mình về khả năng làm giảm hàm lƣợng đƣờng huyết của cao đặc từ Bằng Lăng nƣớc tƣơng tự nhƣ 7 Luan van insulin. Sau đó, việc sử dụng rộng rãi cây Bằng Lăng nƣớc ở Philippin đƣợc chú ý và đƣợc đƣa sang Nhật Bản.Hiện nay,các nhà khoa học từ nhiều nƣớc nhƣ Nhật Bản, Philippin, Mỹ, Hàn Quốc đang nghiên cứu về cây Bằng Lăng nƣớc.
Cây Bằng Lăng nƣớc đã trở thành phổ biến dƣới nhiều hình thức nhƣ trà bảo vệ sức khỏe ở nhiều nƣớc phía Đông Nam Á và nƣớc Mỹ.F đã làm các thí nghiệm để kiểm tra một số nhóm chất có trong lá Bằng Lăng nƣớc ở Philippin và đã đi đến kết luận: Trong lá có tanin, glucozit trợ tim, flavonoit và sterol, không có ancaloit [13]. Đến năm 1996, Kakuda đã nghiên cứu về hoạt tính ngăn ngừa bệnh đái tháo đƣờng của dịch cô đƣợc ngâm chiết từ cây Bằng Lăng nƣớc. Trong nghiên cứu này, Kakuda đã thấy rằng dịch chiết có thể làm giảm mức insulin, đƣờng huyết và hàm lƣợng cholesterol trong máu. Một nghiên cứu khác cũng thuộc nhóm nghiên cứu của Kakuda cho biết, một số thành phần trong cây Bằng Lăng nƣớc có tác dụng làm giảm đáng kể cân nặng của các cơ thể béo phì, một trong những nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh tiểu đƣờng.
Một nghiên cứu khác cho thấy, trong hạt cây Bằng Lăng nƣớc có chứa axit (Z)- 9-oxooctadec-11-enoic [15], trong lá có các amino axit nhƣ isoleuxin, alanin, axit α- aminobutyric và methionin [13]. Isoleuxin (C6H13O2N) Axit α-aminobutyric ( C4H9O2N) Alanin (C3H7O2N) Methionin (C5H11O2SN) 8 Luan van Năm 1991, công trình nghiên cứu của Daulatabad C.D và các cộng sự [14] đã xác định đƣợc hàm lƣợng các axit có trong dầu lấy từ hạt loài Lagerstroemia thomsonii đƣợc trình bày ở bảng 1. Hàm lượng các axit có trong dầu hạt loài Lagerstroemia thomsonii Hàm lƣợng Hợp chất Công thức (%) Axit panmitic CH3(CH2)16COOH 17,8 Axit stearic CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7COOH 8,8 Axit oleic CH3(CH2)14COOH 20,7 Axit linoleic CH3(CH2)4CH=CHCH2CH=CH(CH2)7COOH 49,9 Các axit khác 2,8 Khi nghiên cứu lá loài Lagerstroemia subcostata,Iida,H và CominsD.L đã phát hiện một số ancaloit khác nhƣ: Subcosin I, lasubin I, lasubin II [16], subcosin II [17].E đã phân lập đƣợc lythridin [18], lythrin [19] từ Lagerstroemia fauriei và decinin từ loài Lagerstroemia lanceolatum [20]. Trong công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Lagerstroemia flosreginae, Xu Y.M đã chỉ ra rằng trong lá có flosin A, reginin A, reginin B [21], reginin C và reginin D [22].
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Năm 2001, PGS. Đỗ Đình Rãng cùng các cộng sự trƣờng ĐHSP Hà Nội [5] đã nghiên cứu hàm lƣợng nƣớc có trong một số bộ phận của cây Bằng Lăng nƣớc nhƣ 9 Luan van hoa, lá, vỏ đƣợc trình bày ở bảng 1. Kết quả cho thấy, hàm lƣợng nƣớc trong hoa là lớn nhất và trong vỏ là ít nhất. Hàm lượng nước một số bộ phận của cây Bằng Lăng nước Các bộ phận Hàm lƣợng nƣớc (%) Hoa 86,96 Lá 74,29 Vỏ 68,75.
10 Luan van CHƢƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. NGUYÊN LIỆU, DỤNG CỤ, HÓA CHẤT VÀ SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 2. Thu mẫu và xử lý mẫu nguyên liệu Nguyên liệu để nghiên cứu là lá cây Bằng Lăng nƣớc (Lagerstroemia speciosa) còn có tên gọi khác theo địa phƣơng là cây Bằng Lăng tím đƣợc thu hái tại Kon Tum. Lựa chọn thu hái 2 dạng nguyên liệu là lá non, lá già với tổng khối lƣợng là 5kg.1 Lá non, lá già và lá khô (từ trái sang phải) Thông số về trạng thái kích thƣớc nguyên liệu tính trung bình trên 50 lá ngẫu nhiên đƣợc trình bày ở bảng 2.
Thông số nguyên liệu Đƣờng kính Chiều dài Thông số (cm) (cm) Lá non 4,1 7,8 Lá già 6,6 14,2 Lá khô 5,4 9,5 2. Khảo sát khối lƣợng cao chiết cồn trong mỗi loại nguyên liệu Nguyên liệu: bột lá Bằng Lăng nƣớc. Nguyên liệu sau khi thu hái đƣợc cắt nhỏ và phơi khô, sấy và đem nghiền thành bột. Cho vào bình thủy tinh lớn 600g bột nguyên 11 Luan van liệu các loại, thêm vào 5400ml ethanol 96%, chiết ngâm 3 lần, mỗi lần 4 giờ.