Chương 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN 1. Tổng quan về DNA mã vạch (DNA barcodes) 1,1,1. Giới thiệu về DNA mã vạch: NỊ nhận diện các mẫu vật, năm 2003, khái niệm DNA mã vạch đã được Paul Heber - nhà nghiên cứu thuộc Đại học Guelph, Ontario đưa ra đầu tiên. Theo đó, mã vạch DNA sử dụng một trình tự DNA ngắn trong genome của sinh vật như là một chuỗi ký tự duy nhắt giúp phân bi hai loại sinh vật với nhau.
Điều này cho thấy, DNA mã vạch là một phương pháp định. danh sử dụng một đoạn DNA chuẩn trong bộ genome của sinh vật với mục dich định danh loài sinh vật đó. DNA mã vạch có đặc điểm quan trong là phải đặc hiệu trong các biến dị, dé dangsử dụng và phổ biến. Gen được sử dụng như một mã vạch có tính.
chất én định và bảo thủ cao bên trong loài. thích hợp cho nhiều đơn vị phân loại. Để khuếch đại bằng kỹ thuật PCR được dễ dàng thì DNA mã vạch phải có trình tự nucleotide ngắn bắt cặp được với cặp mỗi đặc hiệu. Hệ thống mã vạch DNA theo tác giả Taberlet P.
và cộng sự (2007) phải đáp ứng các yêu cầu sau: Đoạn DNA chỉ thị phải đủ độ biến thiên đẻ. phân biệt giữa các loài nhưng cũng phải không khác nhau quá mức giữa các cá thể trong cùng loài. Hệ thống định danh bằng DNA phải được chuan hóa, với cùng một vùng DNA có thể được sử dụng cho các nhóm phân loại khác nhau, Doan DNA chi thị cần chứa đủ thông tin phát inh loài để có thể dễ dàng định dani loài vào các nhóm phân loại (chi, ho,. Có khả năng áp dụng với các mẫu vật thô, với vị trí cặp mỗi nhân gen có độ bảo thủ cao, dễ đàng thực hiện phan ứng khuếch đại va đọc trình tự DNA.
Đoạn DNA nghiên cứu nên có kích thước ngắn để quá tình nhân bin DNA không bị sai lệch. Thông thường, đoạn DNA nghiên cứu có kích thước 150bp trở lại, nếu dài hơn sẽ dễ bị sai lầm trong quá trình nhân bản DNA. Một số locus được sử dung trong phưrơng pháp DNA barcode ở thực vật Trinh tự gen trong nhân tế bào. và cộng sự (2010) các trình tự mã vạch được.
nhân bản từ DNA hệ gen của bố mẹ dự kí cung cấp nh thông tin vị loài cin xác định. Xử dung kỹ thuật khuếch đại PCR từ hệ gen nhân chủ yếu là đơn gen hoặc có bản sao gen thấp, từ sự suy thoái và chất lượng DNA genome, khả năng phân biệt dưới loài do bảo tổn gen chức năng có thé chính là lý do tại xao hạn chế lượng gen nhân được thử nghiệm trong xác định loài bằng phương pháp DNA mã vạch. 'Vùng gen mã hóa ribosome Hệ thống đa gen mã hóa phần RNA của riboxome là gen rDNA. Gen rDNA có trình tự gen đa dang thích hợp đẻ phân biệt các loài nhưng đồng thời cũng có tính bảo thủ.
DNA ma hóa ribosome 18S, 5, 8S, 28S và xen giữa các trình tự không mã hóa 7781, ITS2 (internal transcribed spacers) nằm ở hai bên sườn của vùng 5, 8S. Vùng mã hóa của ba gen rDNA được bảo tồn cao hơn. hai vùng ITS. Nhìn chung các đơn vị zDNA được lặp lại hang nghìn lần và được sắp xếp tập trấn ệyùng lớn trên nhiễm sắc thể, Một trong những tính năng đáng chú ý nhất của rDNA là từng đơn vị trong hệ thông đa gen không.
tiến hoá độc lập, thay vào đó tat cả các đơn vị tiền hoá một cách phối hợp nhờ vây mà rDNA đạt mức ổn định cao hơn trong loài nhưng khác biệt giữa các loài khác nhau. Hiện tai, vùng /TS của gen nhân được xem là một trong những công cụ hữu ích nhất để đánh giá phát sinh loài ở cả thực vật và động vật vì nó phd biển trong tự nhiền, kế thừa từ bố mẹ và biển đối cao do ít hạn chế chức năng. Một số nghiên cửu gin đây ở cây sinh sẵn hữu tính và cây sinh sẵn vô tính cho thấy một số mức độ biển đổi số các bản sao của trình tự ITS1 và ITS2 do nhiều nguyên nhân như lai gần, phân ly, tái tổ hợp. tỷ lệ đột biến cao và hình.
thành gen gid của các gen chức năng dẫn đến những thay đổi đó. Trên cơ sở, này rDNA có thể được sử dụng dé phân định chính xác và hiệu quả thực vật trong cùng loài với đặc điểm lịch sử đời sống khác nhau (một năm, lâu năm, trên cạn, đưới nước) và nguồn gốc tiến hóa khác nhau (Vijayan K. và công sự, 2010) , (Yong H. L: Và cộng sự, 2010), Gen lục lap Hệ gen lục Tap của thực vật gồm phân tir DNA mạch vòng có kích thước 120 — 160 kb chia làm hai bản sao đơn là bản sao đơn lớn (large single- copy region) và bản sao don nhỏ (small single-copy region).
Hai bản sao được. phân cách bởi hai chuỗi lặp lại đảo nhau (Ira và Irb) có độ dài trung bình 20 ~ 30 Kb. Hệ gen lục lap chứa tắt cả các gen #RNA (4 gen ở thực vật b gen /RNA (35 gen) và các gen khác mã hóa cho các protein tổng hop trong lục lap (khoảng 100 gen) cần thiết cho sự tồn tại của chúng. Hệ gen lục lạp có tính bảo thủ cao và mang tính đặc thù của từng loài do vậy việc sử dụng các kết quả phân tích hệ gen lục lạp vào nghiên cứu phát xinh loài và phân loại thực vật được các nhà khoa học rit quan tâm.
Dựa trên những thông tin có sẵn từ các nghiên cứu về phát sinh loài và các nghiên cứu gin day, một số locus là đoạn gen hay các gen được chọn để nghiên cứu làm chỉ thị barcode tiểm năng cho cát loài thực vật trên trái đắt. Có khoảng 20 gen lục lap có độ đài phù hợp (khoảng 1 kb) được sử dụng trong nghiên cứu phát sinh loài. Các gen này chứa đựng nhiều mức độ tiến hoá và vì vậy phù hợp. cho nhiều mức độ phân loại (Liu và cộng sự, 2016), (Vijayan K.
Gen rbel- “Trong các gen lap thé, zbcL. là trình tự gen đặc trưng nhất, mã hóa các tiếu đơn vị lớn của rubilose-l,5-bisphosphate cacboxylase/oxygenase (RUBISCO). là gen đầu tiên được giải trình từ thực vật. rbcL đã được sit dung rộng rãi trong nghiên cứu phát sinh loài và phân loại thực vật với hơn 10000 trình tự rbcL có sẵn trong GenBank.
Do sự dé đàng trong khuếch đại PCR ở một số nhóm thực vật, CBOL gần day đã công nhận rbcL là một trong. những trình tự gen tiềm năng nhất cho các nghiên cứu DNA barcode ở thực vật. Tuy nhiên, do khả năng phân biệt loài thấp, nên hầu hết các nhóm đều cho rằng nên sử dụng kết hợp rbcL. với các với các chỉ thị barcode khác, ví dụ như zmafK là hai locus barcode chuẩn cho thực vật (Vijayan K, and Tsou C.
W và công sự, 2010) Gen mai “Trong số các gen lục lap, marK là một trong những gen tiến hoá nhanh nhất, có kích thước khoảng 1550 bp và mã hóa cho enzyme maturase liên quan đến qui ih loại bỏ : intron loại 2 trong quá inh phiên mã RNA. Do marK tiến hoá nhanh và có mặt haw hết trong thực vật nên đã được sử dụng như một chỉ thị trong nghiên cứu. quan hệ giữa các loài va phát s inh loài ở thực vật. CBOL đã thử nghiệm marK trên gần 550 loài thực vật va thấy rằng 90% mẫu thực vật hạt kín dễ dàng khuếch đại trình tự bằng cách sử dụng.
một cặp mỗi đơn và dé nghị sử dụng. Trình tự gen rpoB và rpoC Gen rpoB, rpoCl, rpoC2 mã hóa ba trong 4 tiểu đơn vị của RNA polymerase lục lap. Khi nghiên cứu họ Dipterocarpaceae, Tsumura và đồng. tác giả (1996) đã nhận thấy gen rpoB là thích hợp để nghiên cứu phát sinh loài.
Hiện nay zpoB là gen được sử dung nhiều trong nghiên cứu phát sinh loi và xác định các loài vi khuẩn, đặc biệt là khi nghiên cứu các chủng có quan hệ gần gũi. Cùng với gen 16S rRNA, rpoB được sử dụng trong nhiều nghiên Cứu dé xác định loài vi khuẩn mới, do vậy các gen này được đề xuất chỉ thị bareode độc lập hoặc kết hợp với một số gen khác. Trong các nghiên cứu gần đây, CBOL đã thử nghiệm 7 locus và thấy rằng khả năng phân biệ loài cua đoạn gen rpoC là thấp nhất (43%). Mặc dù vậy, trong nghiên cứu.
Liu và đồng tác giả (2010) đã chỉ ra rpoCl là một chỉ thị rất hữu ích khi được xử dụng để phân biệt các loài bryophytes. Do vậy cần có các nghiên cứu tiếp theo để chứng minh sự phù hợp khi sử dụng rpoB và rpoC1 làm chỉ thị barcode trong có nghiên cứu giám định loài (Vijayan K.2010) Trình tự gen yef yefS là trình tự DNA mã vạch được sử dụng phổ biển trong phân loại bằng phân tứ, yc/5 mã hóa cho một protein có chứa 330 amino acids. Gen (được bảo tôn trên tắt cả các vùng thực vật và đã được kiểm nghiệm cho phù hợp với DNA barcode của một vai nhóm. Tuy nhiên, gen này chưa được công nhận và sử dụng nhiều trong vai trò của một DNA barcode (Liu và cộng sự, 2016), (Vijayan K., 2010) Ngoài ra còn có trình tự yefl (bao gdm yefla va yc/Ib) cũng được chứng minh là một chỉ thị DNA mã vạch hiệu qua trong phân loại thực vật (Dong và es, 2015) Trình tự hai gen trn-psbA Gen tmH-psbA có kích thước trung bình khoảng 450 bp, nhưng thay đổi từ 296 đến 1120 bp, trnH-psbA được chứng minh là có khả năng xác định loài cao.
Locus /rnH-psbA đã được khuếch đại thành công ở nhiều thực vật hạt kín và hạt trần. Tuy nhiên, trong nhiều thực vật hạt kín rrnH-psbA lại có kích thước rất ngắn (~ 300 bp), kích thước của gen nay thay đổi lớn do sự có mặt của gen 1pS19 hoe các gen gid nằm giữa vùng gen của hai gen /rnH và psbA, Trong nhiều nghiên cứu gần đây đã đề xuất việc sử dụng /mnH-pbA. như chỉ thị mã vạch độc lập cho thực vật hay kết hợp với matK. CBOL thấy rằng khả năng phân biệt loài của ơrnH-psbA là cao nhất (69%) trong số 7 locus được thứ nghiệm và do đó 48 nghị nó như là chỉ thị mã vạch bổ sung.
rikL-psbA cổ thé sử dụng trong hệ thống mã vạch ba locus khí hệ thống ma vạch hai locus không cung cấp đầy đủ khả năng phân tích (Kress W.,2010), Trình tw hai gen tra (UAA)-trnF (GAA) Locus tL (UAA)-trnF (FAA) chứa gen irnL (UAA), ving intron và vùng nằm giữa hai gen /rnl. Taberlet va đồng tác giả là nhóm nghiên cứu đầu tiên sử dung rrnL trong các nghiên cứu hệ thống học.