Chương 1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hợp chất Camptothecin 1-1-1. Camptothecin Camptothecin (CPT) là một alkaloid có cấu trúc vòng ngũ giác phẳng (Hình 1.1), được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1966 bởi Wall và cộng sự. Cũng trong năm 1966, cấu trúc của CPT được xác định bằng cách sử dụng kết hợp phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân và tia X-ray [27].
CPT ức chế hoàn toàn sự tăng trưởng và tái phát ung thư ở một số bệnh ung thư như dai trang, pl i, vú, da đầy, buồng trúng và khối tác tinh ở đô hình chuột [16}, Ngoài ra, CPT cũ 1g cho thấy hoạt tính kháng khối u mạnh trong các bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa [32]. Cấu trúc phân tử cũa CPT và dang hydroxyacid vòng mở [27] 1. Cơ chế tác dụng của Camptothecin 'Vào đầu những năm 1970, các nghiên cứu ban đầu kiểm tra cơ chế hoạt động của CPT cho thấy rằng CPT có khả năng gây ức chế hoàn toàn quá trình sinh tổng hợp deoxyribonucle \cid (DNA) và acid ribonucleic (RNA) (Hình 1. Trong mô hình này, CPT giúp én định phức hợp DNA-Topo I thông, thường thông qua các liên kết hydro, dẫn đến quá tình tổng hợp DNA bị ức chế hoàn toàn [23].
Sự tương tác của phức hợp trên làm ngăn cản sự phân tích của Topo I và các sợi DNA, dẫn đến các sợi DNA đã được tháo xoắn. không có khả năng xoắn trở lại, hình thành chuỗi DNA mạch đôi bi đứt gay. “Một hoặc nhiễu điểm đứt gay làm kích hoạt các phản ứng nội bào khác dẫn đến việc bắt giữ chu ky tế bào trong pha G2 va làm chết tế bào [7, 8, 55]. Cơ chế gây độc tế bào của CPT [11] ‘Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi CPT trong trị liệu bị cản trở bởi khả ‘nang hòa tan thấp trong nước và nhanh bị mắt hoạt tính do bị thủy phân vòng lactone ở ngay trong điều kiện pH sinh lý, cũng như độc tính đáng kể.
Muối natri của CPT đã được đề xuất là dạng thuốc dễ hòa tan hơn. chất có cấu trúc tương tự CPT đã được phát triển thông qua việc thay đổi cấu trúc của CPT với mục đích tăng tính tan của CPT và sự ổn định của vòng lactone nhằm nâng cao hoạt tinh và kha năng ứng dụng trong điều trị CPT. Hai trong số chúng đã được thương mại hóa là topotecan (Hycamtin) và irinotecan (Camptosar, CPT-11) lần lượt bởi GlaxoSmithKline và Pharmacia thiện là Pfizer) [47] (Hình 1. Cấu trúc phân tử của topotecan và irinotecan [47] 1.
Quá trình tổng hợp và bản tổng hợp Topotecan và Irinotecan đơn giản hóa quy trình phức tạp và đồi hôi về mặt kỹ thuật của việc tổng hợp toàn phần các dẫn xuất của CPT, các dạng thuốc này có thé được điều chế bằng các lộ trình bán tông hợp ngắn bắt đầu từ CPT tự nhiên. Ví dụ, SmithKline Beecham đã phát triển tổng hợp topotecan từ 10-hydroxy- CPT (Hình 1.4), Chất trung gian này thu được với hiệu suất 91% trong quá. trình oxy hóa-khử hai bước liên quan đến quá trình hydro hóa một phần chất trung gian tetrahydroquinoline được xúc tác Pt ban đầu và quá tình oxy hóa tiếp theo của nó với việc sử dụng Phl(OAc); [59]. Ngưng tụ 10-hydroxy-CPT.
với formaldehyde và dimeiylamine hoặc hiệu quả hơn với N,N- dimetymethyleneimfflằm clorua (Si hình thành tối thiển sản phẩm phụ 10- hydroxymethyl không mong muốn) [56] đã cho ra topotecan với năng suất tố wa =>. CT ORY ot GOyaƒ Con đường bán tổng hợp thành irinotecan là do nhóm Sawada phát triển năm 1991 (Hình 1.5) [43, 44], Bước quan trọng của quá tình này dựa trên việc bổ sung gốc etyl (được tao tại dl đi phản ứng của propanal, FeSO, và H:O› trong môi trường axit trong nước) một cách chọn lọc ở vị 7 của CPT. Điều nảy đại diện cho một phản ứng liên quan đền việc bổ sung gốc. carbon vào các dị hợp chất thơm th điện tử như pyridine và quinoline, nó đặc bi hữu ích trong việc thay đổi vị trong CPT.
Quá trình oxy hóa theo của 7-ethy-CPT thành N-oxit tương ứng, sau đó là quá trình hydroxyl hóa quang hóa dẫn đến 7-cthyl-10-hydroxyCPT (SN-38) với hiệu xuất tổng thể là 49%. Axyl hóa S -38 bằng [1 bipiperidinyl]-1'-cacbonyl chloride trong pyridin hoặc bằng 1.4-bipiperidin/COCI: đã tạo ra irinotecan với hiệu suất 80% [14, 43, 44]. Quá tình bán tong hợp Irinotecan [25] Các dẫn xuất CPT biến đổi ở vòng quinoline nhận được sự quan tâm lớn nhờ các wu việt mà nó mang lại như tăng khả năng hòa tan, cải thiện hoạt tính và giảm các tác dung phụ. Topotecan được cải thiện tính tan nhờ việc thay thé một amin bậc ba ở vị trí 9, trong khi irinotecan được bổ sung gốc hydroxyl tại vị trí C10.
Ngoài ra, các dẫn xuất như SN-38, 9-aminoCPT, 9- nitroCPT (rubitecan) cũng cải thiện tinh tan đáng kế nhờ những biển đổi trong vòng quinoline [24, 38] 1. Nguồn gốc và phân bồ của các loài thực vật có chứa Camptothecin CPT lần đầu tiên được tim thấy vả xác định đặc tính từ loài c: Hy thụ vào năm 1966 do nhóm nghiên cứu của Wall ở phía Nam Trung Quốc và Tay Tang [27] và tiếp tục được tim thấy trong loài cây thuốc khác đó là cị Căn đậu Øphiorrhiza mungos L. (Rubiaceae) vào năm 1976 ở Nam A và Đông Nam A [20|. Tir năm 1977 - 1996, CPT được tìm thấy trong bảy loài thực vật thuộc.
các họ khác nhau, bao gồm họ Trúc đảo (Apocynaceae), họ Thụ Đảo (leacinaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae). Trong đó Nothapodytes collina C. Wu (leacinaceae), Nothapodytes obscuva C. Wu (Ieacinaceae), Nothapodytes obtusifolia (Mert.) RA-Howard (Ieacinaceae) và Nothapodytes tomentosa CY.
Trong đó gần 1/2 số loài thực. vật sinh CPT thuộc họ Thụ dio và 28% thuộc họ Cà phê. Các loài thực vật được phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam A, đặc biệt là miễn Nam Trung Quốc và An Độ [35], 1 Tổng quan về cây Mẫu đơn. Mô tả thực vật Hình L6.
chinensis Cay Mẫu đơn có tên khoa học là Ixora chinensis một loài thực vật có hoa thuộc họ Cà phê - Rubiaceae với khoảng 500 loài trong chỉ Ixora và thường được gội là "santan: na" ở Philippines. Cay Millon là một loại cây bụi mọc thẳng, nhẫn cao từ 1,5 - 3 m. Lá mọc đối, không cuồng, hình trứng thuôn dài đến hình elip, dài từ 7 - 13 cm, nhọn ở cä hai dau, mọc đối với các cuống lá ngắn. Hoa rất nhiều, mọc thành.
cụm đây đặc, hình cầu gai, đường kính từ 6 - 12 cm, màu cam nhạt, đỏ, vàng hoặc trắng, Đài hoa ngắn và tù. Tràng hoa màu hồng hoặc hơi đỏ, dài 2 - 2,5 em, với các thy tròn đài 5 - 7 mm [I3] 1. Thành phần hóa hoc “Theo kết qua báo cáo của các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm ra 7 hop chất được phát hiện tir cây Mẫu don, và được xác định là D-mannitol (1), axit stearic (2), 1,5-cyclooctadiene (3), ƒ-sitosterol (4), (10E) -9-oxooctadee-10- en-12 -axit ynoic (5), axit azelaic (6) và axit dihydromasticadienolic (7) [41] 1. Tác dụng được lý ‘Theo truyề thống, cây được sử dụng để điều trị tăng huyết áp, thấp khớp, áp xe, vết bằm tim và vết thương.
Nó cũng cổ lợi cho tủy xương và mang thai tử cung. Các axit béo được tìm thấy trong dầu hạt của Mẫu đơn là axit ixoric và axit crepenynic. Ở Philippines, một phương pháp chữa bệnh truyền thống được sử dụng từ những bông hoa tươi được cho là một phương. thuốc chống lại bệnh lao phổi và băng huyết.
Dich chiết từ lá hoặc hoa được. sử dụng để chống lại bệnh đau đầu. Người Mã Lai sử dụng nước sắc rễ sau khi sinh con trong khi người Indonesia dùng nước sắc rễ để điều trị rối loạn. phế quản và nước s ie hoa để điều trị chứng v6 kinh và tăng huy: ấp.
6 Việt Nam rễ, thân, lá và hoa được dùng chữa kinh nguyệt không đều, cao huyết áp, ho lao, ho ra máu, thấp khớp, mụn trứng cá [13]. Vào năm 1995, các nhà khoa hoe Philippines l thử nghiệm u da và u khối gan trên chuột. Những con chuột được cạo lông ở lưng trước 3 ngày rồi. sẽ gây u bằng dimethylbenzanthracene, Sau 3 ngày thoa dịch chiết từ hoa của.
eoeeinea lên khối u 30 phút. Lap lại 3 lần một tuần trong 20 tuần, hành kết quả kiểm tra cho khối u hoà n toàn biến mắt [45]. Năm 2019, cây Mẫu đơn được phát hiện có hoạt tính chống oxy hóa, chống ung thư và chống vi khuân từ lá và hoa [62]. Tổng quan vi nam nội sinh 1.
Vindm nội sinh Vi nắm nội sinh gồm những loài vi nắm sống bên trong cây ký chủ nhưng không gây ra bệnh tật hoặc anh hưởng tiêu cực đến sức sống của vật chủ. Vi nội sinh có thể có những ảnh hưởng tích cực đối với vật chủ như: gia tăng sự phát triển của cây ký chủ, tăng khả năng hắp thụ chất dinh dưỡng của cây, ngăn chặn sự phat triển của mầm bệnh thực vat, giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh và tăng khả năng chống chịu với áp lực môi trường. "Đồng thời, vi nắm nội sinh còn tạo ra nhiều loại thành phần tự nhiên, đôi khi (được gọi là chất chuyển hóa thứ cấp và các chất sinh hóa hữu ích khác. “Tiềm năng khai thác vi sinh vật nội sinh dé sản xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học quan trọng đối với sức khỏe con người là vô.
ing to lớn. “Trong 5 năm qua, hơn 300 loài vi sinh vật nội sinh có khả năng tổng hợp các chất chuyển hóa có giá tri ti liệu đã được phân lập và nuôi cấy thành công trong phòng thí nghiệm. Nắm nội sinh có khả ning tạo. Kuột số chất chuyển hóa giống với vật chủ của chúng [31].
Một trong các hợp chất có được tính. ‘quan trọng đã thu được là vineristine, vinblastine, CPT, quinine va taxol [35], ngoài ra còn hơn 8500 chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học có nguồn gốc tir nắm nội sinh đã được biết đến [9, 17]. Việc phát hiện nắm nội sinh Taxomyces adreanae trong cây Taxus baccata có khả nẵng sinh tổng hợp taxol đã thúc diy các nghiên cứu tìm iếm nắm nội sinh có thé tạo ra các phân tử có hoạt tính sinh học và các dẫn xuất của chúng [29]. Kết quả của các nghiên cứu.
giúp hiểu rõ hơn cơ chế tiến hóa phức tạp của vi sinh vật và thực vật chủ, đồng thời thu được nhiều hợp cl có hoạt tinh sinh học mới. Tuy nhiên, việc phân lập, xác định các vi sinh vật nội sinh triển vọng có khả năng sản xuất các chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học từ vô vàn các loài thực vật luôn là một thách thức. Cũng với đó, việc thiết lập mỗi tương quan với việc sản xuất các phân tử có hoạt tính sinh học cũng là một nhiệm vụ quan trọng.