Chương 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 'Tổng luận các công trình đã công bố v Ấn đề nghiên cứu Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đói gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng trang du và vùng núi nên phù hợp cho sự phát tiễn của động vật nói chung, ch aii và bò sit ni riêng. NB lực nghiên cứu về ch nhái và bò sát ớ Việt Nam được thể hiện qua các. giải đoạn cụ thé như sau Công trình được công bổ đầu tiên về bồ sit và lưỡng ew ở Việt Nam phải kế đến cuốn “ am dược thin hiệu" của Tuệ Tĩnh đã i kê các vị thu c được làm từ các loài bồ sát và lưỡng cư (được dịch sang tiếng Việt và ti bản vào năm 1972). Giai đoạn trước năm 1945: đã cô một số nhà khoa học nước ngoài nghiên cửu về bồ sắt và lưỡng cư ở khu vie Đông Dương.
trong đồ có Việt Nam. Hàng loạt ‘fe sách chuyên khảo được rã đi tong thời gian này có thể kế đến như Bourret (1936, 1941, 1942) va Smith (1921, 1935, 1943) jai đoạn 1954-1975: nghiên cứu Về bò sát và lưỡng cư ở miễn Bắc do các nhà khoa học trong nước thực hiện như Đào Văn Tién, Trin Kiên, Lê Vũ Khôi, các. công bổ về thành phẫn loài ya xinh thái của các bồ sit và lưỡng eur (Dao 1957, 1962). Ở miễn Nam đáng chú ý lả công trình nghiên cứu vé rắn của Camp-den Main 970) Giai đoạn 1975-1996: với sự kết hợp của các nhà khoa học trong và ngoài nước các nghiên cứu tập trung vào khám phé đa dạng thành phần loài đã hành ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước.
Nỗi bật trong giai đoàn này có thé kể đến các khóa định loài về bỏ sát và lưỡng cư của Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1879, 1981, 1982), Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bỏ sát vẻ lưỡng cư đến năm 1996, Giat đoạn từ 1997 đến nay: bên cạnh phương pháp định loài hình thái tuyễn thống, nhờ sự hỗ trợ của phương pháp sinh học phân tử trong phân tích các mối quan hệ di truyền đã góp phần khám phá thêm nhiều loài bò sit và lưỡng ew mới cho Việt Nam. Với tổng số 458 vo năm 2005 (Nguyễn Van Sáng và es 2008) đi tang lên 545 oäi vào năm 2009 (Nguyen al. Theo thống kế của hi trang web về cơ sơ dữ liệu của bò sat v ách nh thé giới (Reprile database and Amphibian Species of the World) thì số lượng loài bồ sit và ch nhấi eta Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại năm 2020 là khoảng 790 loài, trong đó có 288 loài ếch nhái, 214 loài thin lẫn, 248 loài rắn, 37 loài rùa và 3 loài cá sấu (Uetz & Hosek 2020; Forst 2020) Những kết quả nghiên cứu về khu hệ ếch nhài và bò sát tại khu vực hệ sinh thái núi da vôi ở Việt Nam gần đây có thể kế đến: Luu etal. 2013 đã bảo cáo tổng công 151 loài (101 loài bồ sắt và 50 loài lưỡng eu) trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Ké Bang và tính Quảng Bình, theo Ziegler et al.
2014 đã cung cấp một danh lục của 102 loài (50 loài lưỡng cử Và 52 loi bồ sắt) trong đồ ghỉ nhận lẫn đầu tiên cho tỉnh Hà Giang loài ếch nhái và 12 loài bò sát. Nguyen etal 2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bo sắt từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm 2015 và 2016 trong đó có 8 lđài mới ghỉ nhận cho huyện Hướng Hóa và 4 loà¡ghỉ nhận mới cho tỉnh Quảng Trị. Pham et al. 2017 đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhá cho bệ sinh thất núi da vôi của huyện Hà Lang, tinh Cao Bằng trong đó ghỉ nhận mới 3 loài (Odorrana bacboensis, Ö.
graminea, Rhacophorus maximus) cho tỉnh “Cao Bằng Số loài mới eho khoa học được công bố bàng năm cũng tăng lên rõ rột qua các thời kỹ. Nếu trong thôi kỳ 1954-1975 chỉ phát hiện được 1 loài bd sất mới cho khoa học, thi từ năm 1976-1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 16 loài (4 loi ếch nhất, 12 loài bỏ sáo, trong giai đoạn từ 1996-2005 số lượng loài mới phát hiện là 57 loài (28 loài ch nhái, 29 loài bồ sát, trong giai đoạn năm gin đây từ 2015-2020 số lượng loài mới phát tăng nhanh lên để 123 loài cho Việt Nam (04 loi ch nhíi và 39 lo bò sit). Một số loài mới được công bố gần đây có thé kể det 53 loài BSEN mới được công bổ với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam với 33 loài ch hát, 20 loài bò sắt ching hạn như: Cyrtodactylus bobrovi (Nguye Le, Van Pham, Ngo, Hoang, The Pham & Ziegler, 2015; Cyrtodactylus Somi( Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016); Dixonius Minhlei (Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer, Brennan, Ngo & Nguyen, 2016); Oligodon Condaoensis (Nguyen, Nguyen, Le & Murphy, 2016); Cyrtodactylus Gialaiensis (Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler, 2017); Cyntodactylus Sonlaensis (Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017); Opisthotropis Voquyi Ziegler, David, Ziegler, Pham, Nguyen & Le, 2018); Parafimbrios Viemamensis Ziegler, Ngo, Pham, Nguyen; Le & Nguyen, 2018) Acanthosaura phongdienensis (Nguyen, in, Vo, Nguyễn, Zhou, Che. Murphy & Zhang, 2019); Cyrtodactylus taybacensis (Pham, Lê; Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019): Seincella badenensis (Nguyen, Nguyen, Nguyện & Murphiy, 2019); Lycodon namdongensis (Luu, Ziegler, Ha, Le & Hoang, 2019); Oligodon rostral (Nguyen, Tran, Nguyen, Neang, Yushenko & PoyatkOv, 2020); Rhacophorus vanbanicus (Kropachev, Orlov, Ninh, and Nguyen, 2019); Megophrss caobangensis (Nguyen, Pham, Nguyen, Luong, and Ziegler, 2020), Gacitalis tieng (Rowley, Le, Hoang, Cao, and Dau, 2020); Kurixalus gracilloides (Nguyen, Duong, Luu, and Poyarkov, 2020); “Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá thì Nguyen Thanh Luan et al (2016) đã nghiên cứu tròng giai doin 2015 đến 2016 và đã bỗ sung cho danh lục của Khu bảo tn nnn Bắc Hướng Hoá.
Báo cấo này đã hoàn hình danh lục với 31 loài bò sát, éch nhái với 16 họ thuộc 2 bộ. Hiện tại nhiều số iệu đã cũ, chưa kịp cập nhật bổ sung mới. Nhiễu loài còn đang thiểu thông tin và dẫu liệu vÏ vậy cần điều tra bổ sung và cập nhật những thông tin mới nhất để cô được số liệu tham khảo cho những nghiền cứu sau này 1.2, Cơ sở lý luận của vấn để nghiên cứu. Mot số công tình nghiên cứu di hình về bò sắt, ếch nhái tại Quảng Bình có thể kế đến các nghiên cứu tại VỌG Phong Nha - Kẻ Bảng nơi dược đánh gi cao vé tính đa dang sinh hoc.
VQG Phong Nha - Kẻ Bang đã công bé danh lục bỏ sát, ếch nhái với 151 loài trong độ có 50 loài lưỡng cư, 12 fora, 31 loài thin lần, và 58 loài rắn. Tuy nhiềo, các nghiên cứu trước đây ở tinh Quảng Bình chỉ tập trung chủ yếu tại VQG Phong Nha - Kế Bàng, các khu vực khác chưa được quan tâm. Đặc biệt là KDTTN Dong Châu - Khe Nước Trong, mới được điều tra duy nhất một lần vào năm 2015 bởi Phạm Thể vồng và cộng sự, kết quả bo cáo có 67 loài bò sát ch nhái tại khu vực Động Châu - Khe Nước Trong (Rừng phòng hộ Động Châu), tuy nghiên cu này chỉ mồi tập rung ở một số ti khu như 528, 53, 533, 535, do vậy c có thêm nghiên cứu để cập nhật và bổ sung thông tin, Hom nữa, từ khi thành lập vào ngày 25 tháng 06 năm 2020, chưa có nghiên cứu nào về các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nảy. Đây sẽ là thông tin để bổ sung cho KVNC về t nh phần loài bd sát, ếch nhái cũng như sự đa dang của nó.
Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, tinh Quảng Bình là một khu vực có điện tích rộng và có sinh cảnh đa dạng phong phú từ rừng thường xai đến các thủy vục và đồng mộng. Đây là mỗi trưởng phát iỂt Của nhiều loài bồ s ch nhái. Nhưng do sự tác động mạnh mẽ của con người nên đã gây nhiều ảnh hưởng, quấn ú quả nghiên cứu thành phần loài bò x ếch nhái tại đây sẽ là cơ sở để có các giải pháp bảo tn hiệu quả nhằm khôi phục khu hệ "bò sát ếch nhái góp phản bảo tồn nguồn gen. Vi vậy, những nghiên cứu để bổ sung thành phân loài.
cập nhật hệ thống phân loại, phân bổ và đánh gitình trạng bảo tổn khu bệ ba sát, ch nhái trong khu vực là hết sức cần thế. Từ d6 đề xuất các phương pháp bảo tổn khu hệ bô sắt, ch nhái nồi riêng và khu hệ động vật tại Khu dự tữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tinh Quảng Bình nói chung. 2 Chương DIEU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TE VÀ XÃ HỌI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện tự nhiên DIL.
Vier địa lý Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được thành lập theo quyết định số 2156/QĐ-ƯNND ngiy 25 tháng 06 năm 2020 của chủ tịch UBND tinh Quảng Bình, nằm ở. phía Tây - Nam tỉnh Quảng Bình thuộc địa giới hành chính xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy. Phía Tây giáp với CHDCND Lào, phía Đông gidp với xã Ngân Thuỷ, phía Bắc giáp với xã Lâm Thuỷ (huyện Thuỷ), phía Nam giáp với KBTTN Bắc Hướng Hoá (tinh Quảng Trị). Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong có 22 tiéu khu, với tổng diện tích là 22.94 ha, C6 toa độ địa lý: Từ 16° 55° 19" đến 17° 4' 55" vĩ độ bắc “Từ 106° 32! 50" đến 106° 48! 26" kinh độ đông 2.2, Đặc điểm khí hậu, thấy Văn 21.
Khí hậu Khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông tương đối lạnh. Hàng năm mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến đầu tháng 9 (khô hạn gay gắt nhất trong thing 6 và tháng 7), mùa mưa từ cudi 9 đến thing 12, mưa nhiều nhất vào thời kỳ cuối mùa thu (tháng 10 và tháng 11), Trong khu vực không có trạm quan trắc khí tượng, chỉ có trạm Khe Sanh là gần với khu vực nhất và có điều kiện tương đối phù hợp để tham khảo. ‘Theo số liệu quan trắc khí tượng 20 năm tại Khe Sanh, các chỉ tiêu khi tượng trung bình như sau: ~ Nhiệt độ bình quân năm 22,3 °C ~ Nhiệt độ bình quân tối cao 25,8 °C vào tháng 6, ˆ Nhiệt độ bình quân tôi thấp 18,1 °C vào tháng 1, ~ Lượng mưa bình quân năm 2.079 mm, - Tượng mưa bình quân tháng thắp nhất 18,8 mm vào tháng 2, ~ Lượng mưa bình quân tháng cao nhất nhất 456,2 mm vào tháng 10, C6 3 loại gió mùa chính thịnh hành trong khu vực. Giỏ mia đông- nam mang theo hoi âm và mưa lớn.
thịnh hành từ tháng 9 đến thing 11.