Đặt vấn đề Việt Nam là một quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình rất đa dạng, khí hậu đặc trƣng khác nhau giữa các miền. Đó là cơ sở thuận lợi để sinh vật phát triển đa dạng về thành phần cũng nhƣ số lƣợng loài. Động vật thân mềm vô cùng đa dạng về hình thái, tập tính nên có thể thích nghi với nhiều môi trƣờng sống khác nhau. Thân mềm (Mollusca) là một ngành trong phân loại sinh học có các đặc điểm nhƣ cơ thể mềm, có thể có vỏ đá vôi che chở và nâng đỡ, tùy lối sống mà vỏ và cấu tạo cơ thể có thể thay đổi.
Ngành Thân mềm có nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú và là nhóm động vật biển lớn nhất chiếm khoảng 23% tổng số các sinh vật biển đã đƣợc đặt tên. Thân mềm hai mảnh vỏ hay nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalvia) hay lớp Chân rìu là một lớp động vật thân mềm gồm các loài nghêu, hàu, sò nứa, trai, điệp, và một số khác. Thân mềm hai mảnh vỏ gồm 4 phân lớp, trong đó Pteriomorphia là một trong số những phân lớp tiêu biểu của thân mềm hai mảnh vỏ. Phân lớp Pteriomorphia có mang gân, một số dính vào chất nền bằng cách sử dụng lớp tơ mà chúng tự tiết ra.
Bàn chân bị tiêu giảm. Các mép của lớp phủ không đƣợc hợp nhất, mang thƣờng lớn và hỗ trợ cho ăn. Phân lớp này bao gồm nhiều loài trai, sò và hàu nổi tiếng. Hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh có tổng diện tích khoảng 6000 ha, đƣợc coi là hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình của khu vực phía bắc Việt Nam.
Rừng ngập mặn tại địa phƣơng trƣớc đây có chất lƣợng rừng tốt, rất phong phú về số lƣợng loài cây, về hệ sinh thái, về nơi cƣ trú của các loài thủy sinh có giá trị kinh tế cao, đã đem lại nguồn lợi và sinh kế tốt cho ngƣời dân địa phƣơng. Nơi đây đóng vai trò nhƣ một "máy điều hòa không khí" làm mát cho toàn huyện, là hệ thống phòng thủ bảo vệ ngƣời dân địa phƣơng trƣớc mùa mƣa bão, cũng là nơi cung cấp dồi dào các loài thủy, hải sản. Đây chính là môi trƣờng sống thuận lợi cho các quần xã sinh vật sinh sống và phát triển trong đó có các nhóm động vật không xƣơng sống. Một số loại thân mềm hai mảnh vỏ thuộc phân lớp Pteriomorphia không chỉ có giá trị đối với hệ sinh thái mà còn có giá trị về kinh tế nhƣ thực phẩm, đồ trang sức, mỹ nghệ… nhƣ hàu, sò, điệp.
Cho đến nay, việc 1 Luan van nghiên cứu sự đa dạng của những loài thân mềm hai mảnh vỏ nói chung và phân lớp Pteriomorphia nói riêng trên địa bàn huyện Tiên Yên còn hạn chế, chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài Thân mềm hai mảnh vỏ thuộc phân lớp Pteriomorphia trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh”.Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của thân mềm hai mảnh vỏ thuộc phân lớp Pteriomorphia ở khu vực nghiên cứu - Xác định đƣợc hiện trạng khai thác, sử dụng và các nhân tố tác động đến đa dạng sinh học loài thuộc phân lớp Pteriomorphia ở khu vực nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - á nh a dạng thành ph n oài th n m m hai m nh v thuộ ph n p Pteriomorphia hu v nghi n u + Khảo sát, thu mẫu tại thực địa + Phân tích, xác định đa dạng thành phần loài - á nh i m ph n a oài th n m m hai m nh v thuộ ph n p t riomorphia hu v nghi n u + Phân chia các sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu + Xác định đặc điểm phân bố theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu - á nh hiện trạng hai thá , sử dụng và nh hư ng qu n ý a dạng sinh họ oài hu v nghi n u + Xác định các giá trị của các loài thuộc phân lớp Pteriomorphia + Xác định hiện trạng khai thác, sử dụng các loài có giá trị. + Xác định các nhân tố đe dọa đến đa dạng sinh học loài (khí hậu, môi trƣờng, .) + Định hƣớng quản lý đa dạng sinh trong khu vực nghiên cứu 2 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái quát về phân lớp Pteriomorphia (phân lớp trai cánh) 1. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái chung Thân mềm hai mảnh vỏ hay nhuyễn thể hai mảnh vỏ (danh pháp khoa học: Bivalvia, trƣớc đây gọi là Lamellibranchia hay Pelecypoda) hay lớp Chân rìu là một lớp động vật thân mềm. Chúng không có đầu, cũng nhƣ dải răng kitin. Lớp này gồm các loài nghêu, hàu, sò nứa, trai, điệp, và một số khác; một phần sống ở nƣớc mặn, phần còn lại ở nƣớc ngọt.
Đa số là động vật ăn lọc. Mang tiến hóa thành một bộ phận gọi là ctenidium, một cơ quan dùng để ăn và thở. Chúng thƣờng chôn mình trong trầm tích, nơi chúng tƣơng đối an toàn trƣớc kẻ thù. Một số nhƣ loài điệp, có thể bơi.
Vỏ đƣợc cấu tạo từ canxi cacbonat và gồm hai mảnh đƣợc dính với nhau. Hai mảnh vỏ thƣờng đối xứng hai bên, kích thƣớc vỏ biến thiên từ dƣới một milimet tới hơn một mét, dù đa số không vƣợt quá 10 cm. Pteriomorphia là một phân lớp của nhuyễn thể hai mảnh vỏ biển. Bao gồm các bộ Arcoida, Ostreoida, Pectinoida, Limoida, Mytiloida, và Pterioida.
Phân lớp Pteriomorphia cũng chứa một số họ đã tuyệt chủng chẳng hạn nhƣ Evyanidae, Colpomyidae, Bakevelliidae, Cassianellidae và Lithiotidae. Phân lớp này của động vật thân mềm có mang gân, một số dính vào chất nền bằng cách sử dụng một lớp tơ chân, bàn chân bị tiêu giảm. Các mép của lớp phủ không đƣợc hợp nhất. Các mang thƣờng lớn và hỗ trợ cho ăn.
Đặc điểm sinh học và sinh thái học Thuật ngữ Bivalvia đƣợc sử dụng lần đầu tiên bởi Linnaeus trong ấn bản thứ mƣời của tác phẩm Systema Naturae năm 1758 để chỉ những động vật có hai mảnh vỏ. Trƣớc đây, chúng còn có tên Pelecypoda, nghĩa là "chân rìu" (dựa trên hình dạng của chân khi vƣơn ra) … 3 Luan van Phân lớp Pteriomorphia bao gồm các loài có mang tấm và là nhóm sống ở bề mặt nền đáy. Một số loài sống bám vào giá thể bằng núi tơ. Chân tiêu giảm.
Diềm bờ mang đƣợc xẻ thành tua. Mang lớn và có chức năng hỗ trợ cho quá trình lọc thức ăn. Phần lớn ăn mảnh vụn thực vật, vi khuẩn và tảo đặc trƣng cho bề mặt trầm tích và nƣớc ngọt. Phân lớp này bao gồm các nhóm Điệp, Sò và Hàu.
Đồng thời cũng là nhóm duy nhất trong lớp hai mảnh vỏ gồm các loài có điểm mắt thô sơ. Hầu hết loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ có đời sống ít di chuyển và nhiều loài thích nghi với việc vùi mình trong bùn mềm bằng cách sử dụng chân dẹp bên (chân rìu). Mặc dù hấu hết thân mềm hai mảnh vỏ có đời sống ít di chuyển, nhƣng một số loài đặc biệt là các loài thuộc họ Điệp thì có thể bơi trong khoảng cách ngắn, thƣờng để lẫn tránh kẻ thù. Điệp bơi bằng cách sự khép mở nhanh hai vỏ làm bắn nƣớc từ xoang màng áo ra ngoài.
Điệp thƣờng bơi đƣợc một khoảng ngắn, khoảng vài mét mỗi lần. Phân lớp Pteriomorphia cũng giống nhƣ hầu hết các loài hai mảnh vỏ có sự phân chia đồng đều về giới tính (đơn tính) và một số loài là lƣỡng tính (chúng sản xuất cả tinh trùng và trứng). Sự lƣỡng tính đồng thời xảy ra khi các ống sản xuất tinh trùng và nang trứng sản xuất xen kẽ trong các tuyến sinh dục (nhƣ trong họ Tridacnidae), hoặc các tuyến sinh dục có thể đƣợc phát triển thành một buồng trứng và tinh hoàn riêng biệt, nhƣ trong tất cả các đại diện của phân lớp Anomalodes. Trong lƣỡng tính liên tiếp, một giới tính phát triển đầu tiên.
Thông thƣờng, đó sẽ là giai đoạn nam (protandry), nhƣng trong một vài trƣờng hợp, đó là giai đoạn nữ (protogyny). Điều này đƣợc thấy rõ nhất đối với loài hàu Châu Âu, Ostrea edulis, nơi những con đực nhỏ trở thành con cái khi chúng già đi. Phân loại Lớp Bivalvia có khoảng 7.650 loài trong 90 họ. Năm 2010, một hệ thống phân loại mới về lớp hai mảnh vỏ đƣợc công bố bởi Bieler, Carter & Coan, bao gồm cả phân lớp Pteriomorphia [21].
Tuy nhiên, phân loại hiện tại đƣợc chấp nhận của phân lớp Pteriomorphia trên thế giới bao gồm 6 bộ chính, 24 họ với khoảng 1500 loài (theo Wikipedia. Bộ Mytiloida 4 Luan van Nổi bật với họ Mytilidae, giống Modiolus, Mytilus, Lithophaga - Vẹm. Hầu hết các loài sống bám trên nền cứng nhờ vào tuyến tơ ở chân. Chúng thƣờng sống trong vùng nƣớc mặn hoặc vùng cửa sông, một số ít loài sống trong nƣớc ngọt.
Vài loài sống nƣóc mặn nhƣ Lithophaga đục vào nền đá vôi (kể cả san hô) hoặc sống cộng sinh với hải tiêu. Mytilus edulis là một trong những sinh vật chỉ thị sự ô nhiễm môi trƣờng [13]. Cấu tạo chung của họ Mytilidae Bộ Pterioida Bao gồm các họ: Pinnidae, Malleidae, Pteriidae, Pulvinitidae. Trong đó nổi bật với họ Pinnidae, giống Pinna (bàn mai).
Vỏ mỏng, dễ vỡ và có thể dài đến 1m. Cơ khép vỏ trƣớc lớn hơn nhiều so với cơ khép vỏ sau. Chúng sống ở vùng biển nhiệt đới, nơi nƣớc cạn, một phần vùi trong nền đáy và bám vào dƣới nền rắn nhờ vào các sợi tơ [13]. Bộ Ostreoida Bao gồm các họ: Ostreidae, Gryphaeidae.
Họ Ostreidae – họ hàu là nhóm có giá trị thƣơng phẩm. Chúng nằm trên mảnh vỏ trái và bám chắc chắn trên nền đáy. Con trƣởng thành không có chân và không bài tiết ra các sợi tơ. Không có cơ khép vỏ trƣớc và vỏ của chúng thì thiếu lớp xà cừ.
Hàu thay đổi giới tính, đực trở thành 5 Luan van cái và ngƣợc lại, hiện tƣợng này lặp lại mỗi vài năm và kéo dài suốt đời sống của chúng. Mỗi con cái mỗi năm có thể sản sinh khoảng 1 triệu trứng [13]. Cấu tạo của giống bàn mai thuộc bộ Pterioida Hình 1. Cấu tạo chung của họ Ostreidae Bộ Pectinoida Bao gồm các họ: Anomiidae, Plicatulidae, Dimyidae, Entoliidae, Pectinidae, Propeamussiidae, Spondylidae.
Trong đó, bộ này nổi bật với họ Pectinidae, giống Chlamys, Pecten, Aequipecten, Argopecten, Placopecten (điệp). Nhiều loài có thể bơi bằng nhờ hoạt động mở đóng vỏ đột ngột làm vọt ra tia nƣớc mạnh đẩy con vật 6 Luan van theo chiều ngƣợc lại nhƣng một số loài thì không bơi đƣợc mà nằm hoặc bám trên nền cứng nhờ các sợi tơ. Không có cơ khép vỏ trƣớc ở các loài trong họ này.