CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa ở Nam Bộ và khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ 1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa ở Nam Bộ Trước năm 1975, các công tác nghiên cứu khu hệ cá Nam Bộ còn rải rác, chưa tập hợp được nhiều nhà Ngư loại học tham gia. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu do các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện như Kuronuma K., Nguyễn Viết Trương, Trần Thị Túy Hoa (1972) với công trình “Danh lục cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long”, các tác giả đã thu thập, định loại, thống kê và mô tả được 93 loài cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long [53].
Sau năm 1975, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu cá được tiến hành rộng khắp. Các công trình nghiên cứu đã tham gia phục vụ cho công tác nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học của các khu vực. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Công tác điều tra khu hệ cá nước ngọt ở Nam Bộ được nhiều tác giả tiến hành như Akihito và Merguro K. (1976); Trần Thị Thu Hương (1977); Mai Đình Yên (1982); Nguyễn Văn Thiện (1979, 1985); Lê Hoàng Yến và cộng sự (1979 - 1985) [51]; Nguyễn Văn Thiện và cộng sự (1985), “Một số kết quả về điều tra ngư loại sông Đồng Nai” gồm 167 loài, 111 giống, 50 họ, 13 bộ [44]; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng (1988), “Thành phần cá nước ngọt Nam Bộ” với 255 loài trong 139 giống thuộc 43 họ và 14 bộ [50]; Hoàng Đức Đạt, Lê Ngọc Bích (1990), “Thành phần loài cá hồ chứa Trị An, tỉnh Đồng Nai và tình hình nghề cá ở đây” thu được 46 loài, thuộc 18 họ, 6 bộ [9]; Hoàng Đức Đạt (2001), “Về thành phần các loài cá ở Bàu Sấu vườn Quốc gia Cát Tiên” với 39 loài, thuộc 27 giống, 10 họ, 5 bộ [10]; Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Khảo sát ngư loại và tình hình nghề cá ở sông Đồng Nai trên đoạn thuộc vùng quy hoạch xây dựng thủy điện Đồng Nai3 và Đồng Nai4” thu được 54 loài, thuộc 4 bộ [11]; Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Xây dựng bộ mẫu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh phía Nam Việt Nam” với 120 loài, thuộc 41 họ, 14 bộ [12]; Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Khu hệ cá và nghề cá ở Đồng Tháp Mười” đã công bố 125 loài, 66 giống, 34 họ và 6 phân họ, 14 bộ và 4 phân bộ [13]; Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Danh lục về các loài cá nước ngọt thuộc các vùng nghiên cứu: Đồng 6 Tháp Mười, sông Đồng Nai, Khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc - huyện Cát Tiên - tỉnh Lâm Đồng, Bàu Sấu vườn quốc gia Cát Tiên” gồm 177 loài [14]; Nguyễn Hồng Nhung, Nguyễn Hữu Dực (2005), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá nội địa thuộc địa phận tỉnh Cà Mau” gồm 179 loài, 125 giống, 56 họ, 17 bộ [33]; Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001 - 2005), “Cá nước ngọt Việt Nam” cho thấy về sự đa dạng thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản trong thủy vực nước ngọt Việt Nam rất lớn, có 1.027 loài cá nước ngọt thuộc 427 giống, 98 họ, 22 bộ trong đó các bộ cá Chép (392 loài), bộ cá Nheo (126 loài), bộ cá Vược (249 loài) có số lượng loài nhiều và giá trị kinh tế cao hơn cả, có trên 100 loài cá kinh tế; có 36 loài cá quý hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [20]; Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Đồng (2008), “Đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long” với 253 loài, thuộc 132 giống, 42 họ và 11 bộ [15]; Nguyễn Xuân Đồng, Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt (2009), “Điều tra, đánh giá về thành phần loài cá khu vực Búng Bình Thiên, huyện An Phú, tỉnh An Giang” với 103 loài, thuộc 25 họ và 10 bộ [17]; Nguyễn Xuân Đồng, Hoàng Đức Đạt (2009), “Thành phần các loài cá có tiềm năng làm cá cảnh ở các thủy vực nội địa các tỉnh Nam Bộ” gồm 149 loài, 77 giống, 31 họ và 9 bộ [18]; Nguyễn Xuân Đồng (2011), “Khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu về khu hệ cá ở các vùng nước nội địa TP.HCM” xác định được 207 loài cá của 65 họ, thuộc 135 giống của 18 bộ khác nhau [19]; Tống Xuân Tám (2012), “Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông Sài Gòn” thống kê được 264 loài thuộc 155 giống, 68 họ và 16 bộ [40].
Theo tác giả Nguyễn Văn Chiêm - Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản - Bộ Thủy sản cho thấy, cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 260 loài thuộc 43 họ, 130 giống. Cá kinh tế có 55 loài, trong đó có khoảng 20 loài nuôi để làm thực phẩm. Cá được chia thành 3 nhóm chính: nhóm cá có nguồn gốc biển (nhóm cá nước ngọt cấp 2), nhóm cá sông (nhóm cá trắng) và nhóm cá đồng. Trong giai đoạn này, một số sách tổng hợp các kết quả nghiên cứu về khu hệ cá Nam Bộ cũng đã được xuất bản.
Các sách này mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, phân bố, ý nghĩa kinh tế và lập khóa định loại của các loài cá như: Công trình tiêu biểu nhất là của nhóm tác giả Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992), “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ”. Có thể nói, đây là cuốn sách đã tập hợp tất cả các công trình nghiên cứu về cá nước ngọt ở Nam Bộ từ trước đây đến năm 1992 [49]. 7 Tác giả Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1993) xuất bản cuốn sách “Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 173 loài, 99 giống, 39 họ, 13 bộ [30]. Tác giả Phạm Thược và cộng sự (1994) với công trình nghiên cứu “Đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi thủy sản vùng triều Việt Nam” gồm 258 loài, 140 giống, 70 họ.
Dựa vào địa lí phân bố cá của Mai Đình Yên, các tác giả đã chia khu hệ cá ven biển Việt Nam thành 6 đơn vị địa lí và đã xếp các loài theo từng vùng như sau: ven biển tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng có 105 loài (vùng 1), ven biển tỉnh Thái Bình và Nam Định có 53 loài (vùng 2), ven biển Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh có 105 loài (vùng 3), ven biển miền Trung đến Thuận Hải có 52 loài (vùng 4), ven biển Đồng Nai đến Cửu Long có 86 loài (vùng 5), ven biển các tỉnh Cà Mau và Kiên Giang có 46 loài (vùng 6). Tác giả Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Văn Sang (2012), “Nghiên cứu sự đa dạng sinh học khu hệ cá ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên, tỉnh An Giang” trong 3 năm (2008 - 2011), đã thu thập và xác định được 111 loài cá thuộc 27 họ, 10 bộ. Cũng theo thống kê của nhóm tác giả này, vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long có 169 loài cá trong đó bộ cá Vược (Perciformes) có 87 loài chiếm ưu thế (51,38 %), nhóm cá nước lợ cửa sông chiếm ưu thế 115 loài (68,05%), nhóm cá di cư giữa nước mặn và nước ngọt 22 loài (13,03 %) [47]. * Nhận xét Từ các công trình trên cho thấy, cơ sở dữ liệu về khu hệ cá Nam Bộ nước ta khá đa dạng và phong phú.
Tuy nhiên, do sự phát triển không ngừng về công tác nghiên cứu trong thời gian qua đã góp phần bổ sung thêm thành phần và dữ liệu cho nhiều loài cá. Vì vậy, các công trình trên cần phải thường xuyên cập nhật bổ sung, chỉnh sửa để hoàn chỉnh hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học - xã hội, các nghiên cứu về khu hệ cá nội địa Việt Nam đã có những bước phát triển trên nhiều mặt. Các công trình nhìn chung đã thống kê được thành phần loài và không bó hẹp trong những phạm vi nhất định.
Mặt khác, các công trình ngày càng đi sâu vào nghiên cứu sinh thái, tình hình nguồn lợi; từ đó đề xuất các hướng khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi cá, phục vụ cho thực tiễn đời sống của con người. Tuy nhiên, trong nghiên cứu còn một số tồn tại như: trang thiết bị, kĩ thuật chưa thật đáp ứng tối ưu cho nghiên cứu; chưa thống nhất sử dụng chung một hệ thống phân loại nên gây khó khăn cho việc đánh giá, đối chiếu và so sánh. Các nghiên cứu mới chưa được cập nhật, bổ sung; chưa có một công trình nào thống kê đầy đủ về thành phần và sự phân bố của 8 các loài cá ở Nam Bộ; chưa có nhiều công trình với quy mô toàn diện và đi sâu vào sự biến động số lượng và thành phần loài do tác động con người, biến đổi khí hậu như: xây hồ chứa nước, làm đập thủy điện, làm ô nhiễm môi trường nước và sự tăng nhiệt độ, sự xâm lấn của nước biển. Lược sử nghiên cứu cá ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cần Giờ Trong công trình “Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh (1978 - 2000)” của hội Khoa học Kĩ thuật Lâm nghiệp TP.HCM và theo kết quả điều tra khu hệ động vật RNM Cần Giờ sau phục hồi của các tác giả Phạm Văn Miên và cộng sự (1992), Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1996), Bùi Lai (1997), Hoàng Đức Đạt (1997), Đỗ Văn Nhượng (2000) cho biết khu hệ cá ở đây có 139 loài thuộc 39 họ, 13 bộ, phân bố trên các sông, kênh, rạch nước lợ [23].
Tác giả Thái Ngọc Trí (2008) “Dẫn liệu về thành phần loài cá và hiện trạng nghề cá ở vùng hạ lưu cửa sông ven biển thuộc huyện Cần Giờ, TP.HCM” đã thu thập và định loại được 102 loài thuộc 35 họ, 12 bộ. Trong đó xác định có 54 loài có giá trị kinh tế, 1 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2000), bậc R (hiếm, có thể có nguy cấp) là loài cá Mang rổ Toxotes chatareus (Hamilton, 1822) [45]. Tác giả Thái Ngọc Trí (2010) với đề tài “Điều tra hiện trạng khai thác nguồn lợi cá ở huyện Cần Giờ và bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cá Chìa vôi Proteracanthus sarissophorus Cantor, 1849”, kết quả khảo sát cho thấy hiện nay tại vùng biển Cần Giờ có 74 loài cá, thuộc 32 họ, 10 bộ. Trong số này, có 1 loài là cá Mang Rổ Toxotes chatareus (Hamilton, 1822) hiện đang nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (bậc VU, là loại hiếm, sắp nguy cấp).