chương 1 cũng trình bày cấu trúc và giới thiệu khái quát các nội dung của các chương trong luận án. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu cũng như các khung phân tích về vấn đề nghiên cứu có liên quan. Chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan. Từ đó, luận án xác định khoảng trống nghiên cứu để xây dựng khung phân tích nghiên cứu.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Sinh kế Khái niệm sinh kế được Chambers và Conway (1992) định nghĩa “bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống.
Một sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi sau những căng thẳng và cú sốc duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản, trong khi không phá hoại cơ sở tài nguyên thiên nhiên”. Tính quan trọng của định nghĩa này là hướng sự chú ý đến các liên kết giữa các tài sản hộ gia đình, các chiến lược (hoạt động) và kết quả là dưới ảnh hưởng của môi trường trung gian. Scoones (1998) đã phát triển: “Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người. Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng, nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên”.
DFID (1999) đưa ra khái niệm: “Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản và các hoạt động cần thiết nhằm phục vụ sinh sống. Sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi từ những căng thẳng và cú sốc, có thể duy trì hoặc tăng cường các khả năng, tài sản trong hiện tại và tương lai, trong khi không phá hoại tài nguyên thiên nhiên”.2 Biến đổi khí hậu Theo Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC), “BĐKH đề cập đến bất kỳ sự thay đổi nào về khí hậu theo thời gian, do biến đổi tự nhiên hay do hoạt động của con người” (IPCC, 2007, tr. Cách tiếp cận đã mở rộng khái niệm về BĐKH, theo đó bất kỳ sự thay đổi khí hậu 11 được cho là trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của bầu khí quyển toàn cầu được quan sát theo thời gian. Căn cứ trên định nghĩa cơ sở của IPCC (2007), Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã cụ thể định nghĩa trên: “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016, tr. Theo IPCC (2007), BĐKH hiện nay bao gồm các biểu hiện sau: “1) nhiệt độ trung bình tăng; 2) mực nước biển dâng cao; 3) sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển; 4) sự di chuyển của các đới khí hậu đến các vùng khác nhau; 5) sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước và các chu trình sinh địa hóa khác; và 6) Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái. Trong đó, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của BĐKH”. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, BĐKH được giới hạn ở nhóm yếu tố khí hậu liên quan gồm nhiệt độ cao – khô hạn kéo dài – xâm nhập mặn.
Đây là nhóm yếu tố có tác động lớn đến sinh kế người dân ở ĐBSCL với cấp độ rủi ro ở mức cao (Lê Anh Tuấn và cộng sự, 2013).3 Chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu Mức độ khắc nghiệt của thời tiết, đặc biệt là hạn hán, là rủi ro lớn trong các yếu tố tác động đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của nông dân (D Udmale và cộng sự, 2014; Jianjun và cộng sự, 2015). Do đó, họ đã thực hành các lựa chọn thích ứng để giảm bớt ảnh hưởng của hạn hán. Ứng phó với BĐKH không còn là nhiệm vụ riêng của bất cứ quốc gia nào mà là nhiệm vụ chung của cả thế giới. Do đó, Ngân hàng Thế giới (2010) đã nhận định “BĐKH chính là thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21, đòi hỏi thế giới cần hành động ngay bây giờ, hành động cùng nhau và hành động theo cách khác so với những gì đã làm trong quá khứ”.
Giảm thiểu BĐKH hay sự thích ứng đòi hỏi sự tham gia của một loạt các bên liên quan ở nhiều cấp độ (chính phủ, địa phương, hộ gia đình) và trong nhiều lĩnh vực. Theo Báo cáo Đánh giá thứ ba của IPCC đã xác định sự thích ứng là bất kỳ sự 12 điều chỉnh trong các hệ thống sinh thái, xã hội hoặc kinh tế để thích ứng với các kích thích, ảnh hưởng hoặc tác động của khí hậu trong thực tế hoặc tương lai (James và cộng sự, 2001). Thuật ngữ này đề cập đến những thay đổi trong quy trình, thực hành hoặc cấu trúc để kiểm soát hoặc bù đắp các thiệt hại tiềm ẩn hoặc để tận dụng các cơ hội liên quan đến những thay đổi trong khí hậu. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án là hướng đến sinh kế của hộ, sự thích ứng hay chiến lược thích ứng về BĐKH được tập trung nghiên cứu theo hướng cấp độ hộ gia đình.
Theo đó, thay đổi giống cây trồng, tưới tiêu, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, bảo tồn đất, thay đổi lịch gieo trồng, tăng khoảng cách cây, và điều chỉnh mức độ và thời gian áp dụng phân bón là những chiến lược thích ứng nhất ở cấp độ nông hộ với thay đổi khí hậu (Nhemachena và Hassan, 2007). Tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất nông nghiệp của từng vùng, địa phương và tác động của BĐKH mà có những chiến lược thích ứng sinh kế khác nhau. Đối với khu vực ĐBSCL, các chiến lược thích ứng cũng khá tương đồng với các khu vực khác. Nghiên cứu của Nam (2011) cho thấy các nông hộ ở khu vực ĐBSCL thời gian qua đã áp dụng nhiều chiến lược thích ứng như điều chỉnh lịch gieo trồng, đa dạng hóa cây trồng và thay đổi kỹ thuật canh tác để giảm thiểu tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp.
Hay nghiên cứu của Le Dang và cộng sự (2014) và Ngo (2016) cũng cho thấy các nông hộ đã áp dụng nhiều biện pháp thích ứng khác nhau như quản lý sử dụng nước (dự trữ nước, đào giếng, tiết kiệm nước), thay đổi cây trồng/giống (thay đổi giống, thay đổi cây trồng/vật nuôi, thay đổi cơ cấu cây trồng), thay đổi kỹ thuật (chuyển đổi canh tác, thay đổi phân, thuốc, số lượng cây trồng, vật nuôi) và điều chỉnh lịch gieo trồng (thay đổi lịch tưới, luân canh cây trồng). Ngoài ra, các hoạt động thích ứng khác như tu bổ/duy tu bờ bao quanh đất canh tác, giảm số vụ canh tác/năm cũng được người dân sử dụng (Kim Dang và cộng sự, 2021). Nhìn chung, các chiến lược thích ứng trong sinh kế ở cấp độ hộ gia đình khu vực ĐBSCL có thể được tổng hợp theo bảng 2.1 Các hoạt động thích ứng BĐKH trong sinh kế ở các hộ gia đình ĐBSCL Hoạt động thích ứng Diễn giải Thay đổi giống cây Thay đổi giống lúa để ứng phó với BĐKH như giống trồng/vật nuôi lúa chịu được điều kiện khí hậu khắc nghiệt như mặn, hạn, lũ, hoặc giống có khả năng kháng sâu, bệnh. Thay đổi cây trồng/vật Chuyển đổi từ loại cây trồng/vật nuôi này sang loại cây nuôi trồng/vật nuôi khác, ví dụ như trồng lúa chuyển sang rau màu, hoặc cây công nghiệp ngắn ngày,… Thay đổi mô hình canh tác Luân canh (luân phiên thay đổi các loại cây trồng khác nhau trên cùng một khu đất), xen canh (trồng đồng thời nhiều loại giống cây khác nhau trên cùng một khu đất), đa canh (trồng đồng thời nhiều loài cây trên cùng một khu đồng ruộng, vườn).
Điều chỉnh thời vụ/ lịch Điều chỉnh thời gian xuống giống phù hợp với điều kiện gieo trồng khí hậu địa phương (xâm nhập mặn, hạn hán,.) Điều chỉnh mật độ cây Thay đổi mật độ cây trồng/ số lượng vật nuôi, hoặc giảm trồng/ vật nuôi hoặc số vụ số vụ canh tác (thời gian xâm nhập mặn,.) gieo trồng Điều chỉnh lượng phân, Thay đổi lượng phân, thuốc hoặc điều chỉnh thời gian thuốc bón phân, thuốc Thực hành tiết kiệm nước Áp dụng kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước như ngập khô xen kẻ, tưới nhỏ giọt,. Cải tạo thuỷ lợi nội đồng Nạo, vét, kênh, mương nội đồng hoặc đắp bờ bao,. Đa dạng hóa thu nhập Tham gia các hoạt động tạo thu nhập từ nông nghiệp trong nông nghiệp như trồng cây và chăn nuôi, trồng lúa – nuôi tôm/cá,… Tham gia hoạt động phi Tham gia hoạt động tạo thu nhập ngoài nông nghiệp nông nghiệp như buôn bán, công nhân, làm thuê/mướn,… Hoạt động khác Bán đất, vật nuôi, cho thuê đất,…. • Sự thích ứng chủ động hoặc biết trước, được thể hiện bằng tất cả các hành động được thực hiện với dự đoán là hiện thực hóa thiệt hại dự kiến, nhằm mục đích giảm mức độ nghiêm trọng của nó ngay khi đã biểu hiện.
Ví dụ điển hình của các hoạt động này là bảo vệ bờ biển, hoặc cơ sở hạ tầng và các khu định cư các biện pháp phù hợp với khí hậu. Họ cần một số kế hoạch dự kiến và (nếu được thiết kế tốt) có hiệu quả trong trung và dài hạn. • Thích ứng theo phản ứng (ứng phó), được thể hiện bằng tất cả các hành động cần được thực hiện trong mọi thời kỳ để ứng phó với những thiệt hại do mà không thể hoặc không thể giải quyết được bằng thích ứng trước. Chúng thường cần được điều chỉnh liên tục để thay đổi điều kiện khí hậu.
Ví dụ về những hành động này là chi tiêu năng lượng cho điều hòa không khí hoặc những thay đổi hàng năm của nông dân. Căn cứ vào bảng 2.1 và phân loại chiến lược thích ứng của Agrawala và cộng sự (2011), nghiên cứu tổng hợp các chiến lược thích ứng BĐKH ở cấp độ hộ gia đình khu vực ĐBSCL như bảng 2.