Chương 1 chủ yếu giới thiệu những vấn đề mang tính đề dẫn cho phần phân tích và nội dung trao đổi ở các chương sau. 8 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về chuỗi 2.1 Lý luận về chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là một trong những chủ đề được nhiều học giả, nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm trong nhiều thập kỷ qua nhằm đưa sản phẩm ra thị trường một cách hiệu quả, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp. Khái niệm về chuỗi giá trị Chuỗi giá trị của một sản phẩm là hàng loạt những hoạt động cần thiết để tạo ra một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng, thông qua những giai đoạn sản xuất khác nhau, cho tới khâu phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Kaplinsky, 1999; Kaplinsky & Morris, 2001). Lộc (2016) cho rằng, CGT theo nghĩa hẹp là một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định.
Các hoạt động này có thể bao gồm giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi, v. Tất cả những hoạt động này trở thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng. Nói cách khác, CGT theo nghĩa hẹp là các hoạt động trong cùng một tổ chức hay một công ty theo khung phân tích của Porter (1985).
Theo nghĩa rộng, CGT là một tập hợp những hoạt động do nhiều người khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ, v.v) để sản xuất ra một sản phẩm sau đó bán cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (phương pháp tiếp cận toàn cầu). Sơ đồ chuỗi giá trị Để phân tích CGT, trước hết là lập sơ đồ chuỗi. Để lập sơ đồ chuỗi, đầu tiên là xác định các tác nhân, sau đó là dòng sản phẩm bắt nguồn từ trong chuỗi bao gồm nhà cung cấp đầu vào, sản xuất, chế biến và các hoạt động tiếp thị. Mục tiêu để minh họa tổng thể các tác nhân trong chuỗi và các dòng sản phẩm liên quan (Faße et al.
Tác nhân trong chuỗi giá trị Theo Viện đào tạo doanh nhân Việt (2013), tác nhân là những người tham gia thực hiện những chức năng cơ bản của CGT. Chẳng hạn như các nhà cung cấp đầu vào, nông hộ, người thu gom, sơ chế, chế biến, người bán sỉ, người bán lẻ. 9 Liên kết ngang Liên kết ngang là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu hay cùng một hoạt động (GTZ, 2011). Khi các thành viên thực hiện liên kết ngang sẽ mang lại các lợi ích như: giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho từng thành viên qua đó tăng lợi ích kinh tế cho từng thành viên của nhóm, có thể đảm bảo được chất lượng và số lượng cho khách hàng thông qua việc ký hợp đồng đầu ra, sản xuất quy mô lớn.
Qua đó, giúp các thành viên sản xuất kinh doanh hiệu quả, phát triển bền vững. Để hỗ trợ cho liên kết ngang phát triển bền vững, việc tổ chức lại sản xuất, thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, trong đó hợp tác xã là nòng cốt theo Nghị quyết số 20- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương là một vấn đề cấp bách (Ban Chấp hành Trung ương, 2022). Liên kết dọc Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi (GTZ, 2011). Đây là hình thức liên kết phổ biến trong CGT nông sản tại Việt Nam.
Liên kết dọc là quan hệ tất yếu hình thành trong quá trình phát triển các CGT nông sản (Khai, 2011) và giúp giảm chi phí của các tác nhân tham gia trong chuỗi. Hiện nay, liên kết dọc thông qua hình thức hợp đồng liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm được bảo vệ bởi luật pháp nhà nước, tất cả các tác nhân đều biết được các thông tin về sản lượng, tiêu chuẩn chất lượng, giá cả, cơ chế thưởng phạt giữa hai bên nhằm sản xuất đáp ứng đúng nhu cầu thị trường. Phân tích chuỗi cũng như phân tích các liên kết trong CGT để tìm ra những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó có thể đề xuất các giải pháp khắc phục giúp sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững (FAO, 2013). Để thúc đẩy liên kết dọc phát triển bền vững, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là một đòn bẩy, tạo điều kiện phát triển liên kết dọc và nhấn mạnh vai trò quan trọng của liên kết dọc và hợp đồng tiêu thụ nông sản (Chính phủ, 2018).
Giá trị gia tăng Lộc & Son (2016) cho rằng GTGT dùng để chỉ giá trị tăng thêm được tạo ra ở mỗi giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất. Một trong những mục tiêu của phân tích CGT là đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tăng GTGT của mỗi tác nhân cũng như của toàn bộ CGT. Những tác nhân hỗ trợ chuỗi Theo Viện đào tạo doanh nhân Việt (2013), người hỗ trợ CGT là những người tạo điều kiện giúp chuỗi phát triển như chính quyền địa phương các cấp, viện, trường và những dịch vụ hỗ trợ đại diện cho lợi ích chung của các chủ thể trong chuỗi. 10 Kênh phân phối Kênh phân phối là tập hợp các tổ chức, cá nhân phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào công việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy sản phẩm từ người cung cấp đầu vào đến người mua cuối cùng. Tất cả những tổ chức, cá nhân tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh. Những thành viên nằm giữa người cung cấp đầu vào và người tiêu dùng cuối cùng (nếu có) được gọi là các trung gian phân phối (Kotler & Armstrong, 2011). Phân tích kinh tế chuỗi giá trị Phân tích kinh tế chuỗi là việc xác định sản lượng, chi phí, giá bán, lợi nhuận và GTGT của các tác nhân tại các khâu trong chuỗi nhằm đánh giá năng lực, hiệu suất vận hành của chuỗi.
Theo GTZ (2007) đưa ra một số khái niệm và cách tính các tiêu chí phân tích kinh tế CGT như sau: - Chi phí trung gian/đầu vào của mỗi tác nhân: là giá mua sản phẩm của chính tác nhân đó. Đối với người sản xuất ban đầu (nông dân) thì chi phí trung gian là chi phí đầu vào dùng để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm (giống, phân, thuốc bảo vệ thực vật); còn tất cả các chi phí còn lại của nông dân là chi phí tăng thêm. - Chi phí tăng thêm của mỗi tác nhân: là toàn bộ chi phí còn lại ngoài chi phí trung gian của mỗi tác nhân như: lao động nhà/thuê, khấu hao, nhiên liệu, chi phí vận chuyển, liên lạc, v. - Tổng chi phí của mỗi tác nhân: là chi phí trung gian/đầu vào cộng với chi phí tăng thêm.
- Giá trị: là giá bán sản phẩm của mỗi tác nhân (đã quy đổi ra cùng hình thái sản phẩm cho tất cả các khâu trong CGT). - GTGT trong từng tác nhân: là chênh lệch giữa giá bán và chi phí trung gian (hay chi phí đầu vào đối với người sản xuất ban đầu – nông dân). - GTGT giữa hai tác nhân: là chênh lệch giá bán sản phẩm giữa hai tác nhân. - GTGT thuần (GTGTT) (lợi nhuận): là giá bán trừ đi tổng chi phí hay bằng GTGT trừ đi chi phí tăng thêm.
- Phân bổ GTGT thuần trong chuỗi: là phần trăm lợi nhuận của mỗi tác nhân trong chuỗi (tổng lợi nhuận chuỗi là 100%). - Doanh thu của mỗi tác nhân (DT): là số tiền mà mỗi tác nhân thu được trong việc bán sản phẩm của mình được xác định bằng giá nhân với sản lượng. - Thu nhập của mỗi tác nhân: là số tiền tác nhân nhận được sau khi đã trừ các khoản chi phí (không bao gồm chi phí lao động nhà). 11 - Lợi nhuận của mỗi tác nhân: là số tiền mà tác nhân trong chuỗi nhận được do quá trình sản xuất, kinh doanh của mình sau khi đã trừ đi các khoản chi phí đầu tư ban đầu (bao gồm chi phí lao động nhà).
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (LN/CP): là chỉ tiêu cho biết 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu LN/CP > 0 thì người sản xuất có lời, chỉ số này càng lớn càng tốt. - Tỷ số doanh thu trên chi phí (DT/CP): là chỉ tiêu cho biết 1 đồng chi phí để đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu. - Khấu hao tài sản: là tính toán và phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của tài sản cố định hữu hình trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó (theo thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính).
+ Nguyên giá là toàn bộ các chi phí bỏ ra để có được tài sản cố định hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. + Mức trích khấu hao trung bình hàng năm được tính theo công thức = Nguyên giá của tài sản/Thời gian sử dụng. Thông thường giá bán của các tác nhân đi trước là chi phí đầu vào/trung gian của các tác nhân theo sau. Tuy nhiên, nếu tác nhân theo sau mua sản phẩm của nhiều nguồn khác nhau thì chi phí đầu vào/trung gian của các tác nhân đi sau này sẽ là số trung bình gia quyền của giá mua và sản lượng mua vào của các nguồn đó.
Nâng cấp chuỗi giá trị Nâng cấp CGT toàn cầu được định nghĩa là số nền kinh tế, các quốc gia, các doanh nghiệp và người lao động chuyển từ giá trị thấp sang giá trị cao trong mạng lưới sản xuất toàn cầu (Gereffi, 2005). Nâng cấp liên quan đến việc tham gia vào sản xuất các sản phẩm GTGT cao, sử dụng chiến lược sản xuất hiệu quả hơn, và tăng cường kỹ năng hoạt động của các doanh nghiệp (Pavlinek & Zenka, 2011; Kaplinksy, 2004; Humphrey & Schmitz, 2006; Porter, 2000). Một số tác giả đã nêu lên ý nghĩa ẩn dụ của việc nâng cấp là quá trình "di chuyển lên", ưu tiên theo hướng nào đó (Meyer- Stamer, 2003). Theo Viện đào tạo doanh nhân Việt (2013), “Nâng cấp CGT là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường và phát triển chuỗi một cách bền vững”.