Chương 1 giới thiệu ý nghĩa khoa học và những tồn tại của chuỗi ngành hàng thanh long dẫn đến sự cần thiết phải thực hiện nghiên cứu; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của nghiên cứu và cấu trúc luận án. 7 luan an Chương 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Chương 2 bao gồm các lược khảo tổng quan về phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị, các nghiên cứu về chuỗi giá trị thanh long, chiến lược và giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị, truyền dẫn giá trong chuỗi giá trị, đánh giá tổng quan tài liệu và khung nghiên cứu. Chương 3: Cơ sở lý thuyết và Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3 trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến bộ công cụ phân tích chuỗi giá trị của GTZ (2007), sự truyền dẫn giá; và phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Nội dung chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu theo các mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích yêu cầu thị trường, đánh giá thực trạng sản xuất; phân tích chuỗi giá trị thanh long vùng ĐBSCL và đề xuất các chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị thanh long vùng ĐBSCL. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này trình bày tóm tắt kết quả thực hiện nghiên cứu và những tồn tại; một số kiến nghị để nâng cấp chuỗi giá trị thanh long ở các tỉnh trồng thanh long vùng ĐBSCL. 8 luan an CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày các lược khảo tổng quan về phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị, các nghiên cứu về chuỗi giá trị thanh long, chiến lược và giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị, truyền dẫn giá trong chuỗi giá trị, đánh giá tổng quan tài liệu và khung nghiên cứu.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CHUỖI GIÁ TRỊ 2.1 Định nghĩa chuỗi giá trị Chuỗi giá trị có thể được định nghĩa theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng: Chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp là một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể bao gồm từ giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.Tất cả những hoạt động này trở thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động sẽ làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng.
Nói cách khác, chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động trong cùng một tổ chức hay một công ty theo khung phân tích của Porter (1985). Theo nghĩa rộng, chuỗi giá trị là một tập hợp những hoạt động do nhiều tác nhân khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ.) để sản xuất ra một sản phẩm, sau đó bán cho người tiêu dùng trong nước và người tiêu dùng nước ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu (phương pháp tiếp cận toàn cầu của GTZ, 2007). Nói cách khác, chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một chuỗi các quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra; một sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối từ người sản xuất, nhóm sản xuất, doanh nghiệp và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể; và là một mô hình kinh tế trong đó kết nối việc lựa chọn sản phẩm và công nghệ thích hợp với cách thức tổ chức các tác nhân liên quan để tiếp cận thị trường.2 Phương pháp luận trong cách tiếp cận chuỗi giá trị Có nhiều định nghĩa khác nhau về cách tiếp cận chuỗi giá trị nhưng nhìn chung chuỗi giá trị có ba cách tiếp cận chính đó là phương pháp Filière (phương pháp chuỗi), khung phân tích của Porter và cách tiếp cận toàn cầu.1 Khung phân tích của Porter Cách tiếp cận thứ hai có liên quan đến công trình của Michael Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh. Michael Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối 9 luan an quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh khác (cách tiếp cận chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp).
Trong đó, ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí). Hoặc, làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt). Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình. Đặc biệt, Porter còn lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể.
Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) ở các hoạt ộng đó. Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm cho giá trị sản xuất hàng hoá (dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm (Hình 2. Cơ sở hạ tầng: quản trị, tài chính, pháp lý, kế hoạch Hoạt động hổ Quản lý nguồn nhân lực: quan hệ, lương thưởng, đào tạo trợ Lợi nhuận Phát triển công nghệ: quản lý chuỗi cung ứng Hoạt động mua sắm: thông tin với nhà cung cấp,. Đầu vào Sản xuất Đầu ra Marketing, Dịch vụ bán hàng Các hoạt động chính Hình 2.1: Khung phân tích chuỗi giá trị của Porter Nguồn: Michael Porter, 1985 Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất.
Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến qui trình sản xuất. Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần (bên trong và bên ngoài), tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ (lập chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu…). Do vậy, trong khung phân tích của Porter, chuỗi giá trị của công ty chỉ áp dụng trong kinh doanh. Phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các hoạt động quản lý, điều hành đưa ra các quyết định mang tính chiến lược của một tổ chức, một công ty.2 Phương pháp Filière (chuỗi, mạch) Phương pháp Filière được Kaplinsky (1999) đề cập bao gồm nhiều trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau.
Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Phân tích chuỗi, chủ yếu là làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (cao su, bông, cà phê, dừa, lúa gạo và rau màu) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển. Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách thức các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng. Do đó, khái niệm chuỗi (Filière) được nhận thức chủ yếu bằng kinh nghiệm thực tế và được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động.
Tính hợp lý của chuỗi cũng tương tự như khái niệm rộng về chuỗi giá trị (đã trình bày ở trên). Tuy nhiên, khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi thông qua những người tham gia chuỗi (Hình 2. Nhà Nhà Nhà Nhà phân Nhà cung ứng sản xuất chế biến phối tiêu dùng đầu vào Hình 2.2: Khái niệm chuỗi theo phương pháp Filière Nguồn: Kaplinsky, 1999 Phương pháp chuỗi (Filière) có hai lĩnh vực và có một số điểm chung với các tiếp cận khác. Thứ nhất, việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa và phân biệt các khoản chi phí, thu nhập giữa kinh doanh nội địa và quốc tế nhằm phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào tổng thu nhập quốc nội (GDP).
Thứ hai, phân tích chú trọng vào chiến lược của phương pháp chuỗi được sử dụng nhiều nhất ở trường Đại học Paris – Nanterre, một số viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu và Phát triển của Pháp (CIRAD), các tổ chức phi chính phủ như IRAM (về phát triển nông nghiệp), nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi; các chiến lược cá nhân và tập thể cũng như các hình thái qui định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn loại liên quan đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích gồm qui định trong nước, qui định về thị trường, qui định của nhà nước và qui định kinh doanh nông nghiệp quốc tế. Tương tự, Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức 11 luan an chuỗi hàng hóa (lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, vấn đề chuyên môn hóa của nông dân, thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa).3 Mô hình SIPOC Ngoài những mô hình tiếp cận chuỗi giá trị còn có mô hình SIPOS (Supplier – Input – Process – Output – Customer, Nhà cung cấp – Đầu vào – Quy trình – Đầu ra – Khách hàng) dùng để mô tả mối quan hệ giữa nhà cung cấp, đầu vào, quy trình, đầu ra, khách hàng. Mục đích của việc phân tích mô hình SIPOC cải tiến quy trình dựa trên biểu diễn sơ đồ của các yếu tố chính của một quá trình từ nhà cung cấp đến khách hàng nhằm giảm lãng phí và đảm bảo thời gian giao hàng. Sơ đồ SIPOC được thể hiện ở Hình 2.