MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất thế giới, một thị trường đầy tiềm năng được các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vươn tới. Với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có cơ hội lớn trong việc thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng là nhà nhập khẩu lớn nhất trên thế giới nên Việt Nam cũng có nhiều khả năng tăng mạnh xuất khẩu vào thị trường này. Những năm gần đây, quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ về thương mại tăng trưởng mạnh kể từ khi hiệp định thương mại song phương (BTA) giữa hai nước có hiệu lực vào tháng 12 năm 2001, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ đạt kim ngạch cao và gia tăng liên tục (năm 2008 đạt xấp xỉ 12,3 tỷ USD tăng 21,4% so với năm 2007), trong đó trước hết phải kể đến những nhóm hàng như: dệt may, thủy hải sản, da giày, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ, cao su, sản phẩm nhựa… Trong đó nhóm mặt hàng nông sản là một trong số 7 nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất sang thị trường Hoa Kỳ.
Năm nhóm mặt hàng nông sản đạt kim ngạch 506 triệu USD. Việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO đã mở rộng các vấn đề pháp lý trong quan hệ thương mại giữa hai nước vượt ra ngoài khuôn khổ chức năng của Uỷ ban hỗn hợp Phát triển Kinh tế Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, ngày 21/06/2007 Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức ký Hiệp định khung Thương mại và đầu tư TIFA Việt nam – Hoa Kỳ. Việc phát triển quan hệ pháp lý mở rộng hành lang cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển mạnh trong những năm tới, so sánh với chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, thị trường Hoa Kỳ luôn được đánh giá là thị trường ưu tiên số 1 trong định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ sự phá sản của các Ngân hàng của Hoa Kỳ, chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ đã được điều chỉnh, các rào cản thương mại tăng cường được áp dụng đã gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ.
2 Trước tình hình đó các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam chịu ảnh hưởng, tác động rất nhiều của các rào cản thương mại và các tiêu chuẩn khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Trước tình hình khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trong việc định hướng phát triển xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ em chọn đề tài: “Đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ”. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc đánh giá thực tiễn xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong thời gian qua, vận dụng những lý luận về xuất khẩu từ đó đề ra những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: - Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề cơ bản về xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam.
- Kinh nghiệm của một số quốc gia đối với xuất khẩu nhóm hàng này sang Hoa Kỳ. - Phân tích, đánh giá xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong thời gian 2000 – 6/2009, rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này. - Định hướng về phát triển mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đến năm 2020. - Đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ đến năm 2020.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Đề tài khoa học cấp Bộ có liên quan là: “Xuất khẩu nông sản Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay – Thách thức và cơ hội” của TS. Nguyễn Minh Đức Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh nghiệm thu 07/2009 tại Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn và Biển. Mục đích nghiên cứu là đề ra những phương hướng thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay và đề ra giải pháp trong những năm tiếp theo.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài + Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ. + Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu vào thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ và nghiên cứu xu hướng tiêu dùng, quy định của Hoa Kỳ đối với nông sản nhập khẩu từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị trường này. Đối với nhóm hàng nông sản đề tài chỉ nghiên cứu nhóm hàng cà phê, hạt tiêu và hạt điều. Thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm 2000 đến 06/2009.
Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong kinh tế như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, kết hợp với trích dẫn ý kiến các chuyên gia để rút ra những nhận xét, kết luận có căn cứ cho các vấn đề nghiên cứu trong luận văn. Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu làm ba chương: - Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu hàng hoá và sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ. - Chương 2: Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ từ năm 2000 đến 06/2009. - Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ đến năm 2020.
4 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SANG HOA KỲ 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu hàng hóa 1.1 Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động đưa các hàng hoá, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp.
Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ. Dưới giác độ phi kinh doanh như quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại thì hoạt động đó lại là việc lưu chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ qua biên giới quốc gia.2 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: Xuất khẩu hàng hoá, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ, xuất khẩu sức lao động….
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ… tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định qui mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu. Ở Việt Nam thời kỳ 1986 – 1990, nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá đảm bảo tới trên 75% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, tương tự, thời kỳ 1991 – 1995 là 66% và 1996 – 2000 là 50% (đó là chưa thống kê nguồn vốn thông qua xuất khẩu dịch vụ).
5 Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay nợ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn chủ yếu để trả nợ – trở thành hiện thực. Theo lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo trong tác phẩm “Những nguyên lý về kinh tế chính trị 1817” thì mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế bởi vì “ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước” do chỉ chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác. Đối với các nước đang phát triển thì việc xuất khẩu lâm sản sẽ giúp cho họ có được một phần vốn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Đối với các nước phát triển, trên cơ sở trình độ sản xuất cao thì xuất khẩu lâm sản giúp họ tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa và nhập khẩu những mặt hàng không phải thế mạnh của họ trong sản xuất.
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và là tất yếu đối với nước ta. Có 2 cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế : Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ các sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa.
Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu, chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng. Do vậy, nếu chỉ thụ động chờ ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ diễn ra rất chậm chạp. 6 Hai là, coi thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới là huớng quan trọng để tổ chức sản xuất.
Quan điểm thứ 2 chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất.