Tổng quan luận án
Sản xuất lúa gạo giữ vai trò trụ cột trong việc bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam, với hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu đến từ vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo các định hướng tại Quyết định số 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 và Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, việc xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên các giống lúa đặc sản có lợi thế cạnh tranh là nhiệm vụ trọng tâm. Giống lúa mùa Tài Nguyên (TN) là giống đặc sản truyền thống, cảm quang, canh tác 1 vụ/năm với chu kỳ sinh trưởng 6 tháng, thu hoạch vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau, thích nghi với vùng sinh thái nước lợ tại các tỉnh Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Trà Vinh.
Trước năm 2009, gạo Tài Nguyên được thị trường nội địa ưa chuộng nhờ các thuộc tính cảm quan đặc trưng: hạt nhuyễn, màu đục như sữa, khi nấu chín cơm nở, xốp, mềm, ngọt và có mùi thơm tự nhiên. Sau năm 2009, chất lượng gạo Tài Nguyên ghi nhận sự suy giảm: hạt gạo trong hơn, cơm khô cứng khi để nguội và để qua đêm, giảm độ tơi xốp và mất hương vị truyền thống. Thực trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân xuyên suốt chuỗi cung ứng: nông dân lạm dụng thuốc ức chế sinh trưởng chứa hoạt chất Paclobutrazol và tăng cường phân bón hóa học nhằm rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống 4,5 tháng để tránh đổ ngã; nguồn nước lợ bị ô nhiễm và suy giảm do các công trình ngăn mặn; khâu xay xát, chế biến và lưu thông xuất hiện tình trạng cố ý đấu trộn với gạo Sóc Miên phẩm cấp thấp nhập khẩu từ Campuchia hoặc các giống gạo khác. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là sự thiếu vắng các công trình đánh giá thực nghiệm có hệ thống về cơ chế suy giảm chất lượng và mô hình quản trị chất lượng toàn diện theo chuỗi cung ứng cho giống lúa mùa đặc sản này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng nhằm giúp các tác nhân tham gia trong chuỗi cũng như các nhà quản lý địa phương có đủ cơ sở để hoạch định và quản lý chất lượng sản phẩm lúa gạo Tài Nguyên tốt hơn, đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng gạo Tài Nguyên trong nước và xuất khẩu.
- Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng (khâu sản xuất, bảo quản chế biến và khâu tiêu thụ).
- Mục tiêu 3: Phân tích tác động của hoạt động quản lý chất lượng lúa gạo TN theo chuỗi cung ứng và quản lý Nhà nước đến chất lượng lúa gạo Tài Nguyên.
- Mục tiêu 4: Đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng để đáp ứng tốt hơn yêu cầu người tiêu dùng.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Câu hỏi 1: Nguyên nhân chất lượng lúa gạo TN vùng ĐBSCL thay đổi hiện nay (2014) so với trước năm 2009 dọc theo chuỗi cung ứng là gì? Các vấn đề có liên quan trong từng khâu thể hiện ra sao?
- Câu hỏi 2: Đặc điểm của chuỗi cung ứng lúa gạo TN hiện nay tạo nên thuận lợi và khó khăn gì trong việc quản lý chất lượng lúa gạo TN theo chuỗi cung ứng? Các yếu tố nào trong khâu sản xuất, bảo quản, chế biến và khâu tiêu thụ ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo TN?
- Câu hỏi 3: Hoạt động quản lý chất lượng lúa gạo TN của các tác nhân trong chuỗi cung ứng ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng lúa gạo TN? Và các yếu tố quản lý Nhà nước nào có liên quan và ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo TN?
Các giả thuyết nghiên cứu được kiểm định:
- Giả thuyết 1: Chất lượng lúa gạo TN vùng ĐBSCL đang trong tình trạng suy giảm chất lượng so với trước năm 2009.
- Giả thuyết 2: Các yếu tố thuộc các khâu sản xuất; bảo quản và chế biến; khâu tiêu thụ; hoạt động quản lý chất lượng và quản lý Nhà nước có ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo TN theo chuỗi cung ứng.
Đối tượng nghiên cứu là chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng và hoạt động quản lý chất lượng lúa gạo Tài Nguyên. Đối tượng khảo sát bao gồm nông hộ canh tác lúa, thương lái, chủ nhà máy xay xát, doanh nghiệp, đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ, người tiêu dùng nội địa, cùng đội ngũ chuyên gia nông nghiệp và cán bộ quản lý địa phương.
Phạm vi không gian tập trung tại hai vùng chuyên canh lúa Tài Nguyên lớn nhất ĐBSCL là huyện Thạnh Trị (tỉnh Sóc Trăng) và huyện Cần Đước (tỉnh Long An); khảo sát bổ sung trường hợp điển hình canh tác lúa 6 tháng không dùng chất ức chế sinh trưởng tại tỉnh Cà Mau; đồng thời mở rộng điều tra các tác nhân thương mại trung gian tại Cần Thơ, Tiền Giang và Trà Vinh. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp đợt 1 từ tháng 11/2014 đến tháng 10/2015 và đợt 2 cập nhật thông tin bổ sung vào tháng 9/2018. Giới hạn nghiên cứu được tác giả xác định rõ: không áp dụng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) tổng thể gộp chung cho cả ba khâu sản xuất, bảo quản chế biến và tiêu thụ do dữ liệu không đồng nhất về thang đo và tính chất sản phẩm có sự biến đổi cơ học - hóa lý qua từng công đoạn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về cơ sở lý thuyết chất lượng, luận án điểm lại các quan điểm kinh điển: Garvin (1984, 1988) với năm cách tiếp cận chất lượng và tám thuộc tính sản phẩm; Juran (1951, 1974), Juran và Godfrey (1999) định nghĩa chất lượng là sự phù hợp cho sử dụng; Crosby (1979) với quan điểm chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu; Feigenbaum (1951, 1983) phát triển hệ thống kiểm soát chất lượng toàn diện (TQM); tiêu chuẩn ISO 9000 (2005) nhấn mạnh vào các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát tổ chức. Về chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng nông sản (AFSC), tác giả kế thừa các công trình của Lambert, Stock và Ellram (1998), Mentzer và cộng sự (2001), Chopra và Meindl (2001), Van der Vorst (2006, 2007), Iakovou và cộng sự (2012), Bochtis và cộng sự (2018). Khái niệm quản lý chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM) được tổng hợp từ Kuei và Madu (2001, 2003), Robinson và Malhotra (2005), Benaissa và cộng sự (2010), Soares, Soltani và Liao (2017).
Các nghiên cứu quốc tế về chuỗi cung ứng nông sản được tổng thuật bao gồm: Cunningham (2001) rà soát 123 công trình và chỉ ra điểm yếu trong việc quản trị chuỗi thiếu định hướng thị trường; Shukla và Jharkharia (2013) tổng kết 20 năm nghiên cứu SCM sản phẩm tươi; Batt (2003) phân tích chuỗi cung ứng khoai tây tại Việt Nam bằng phân tích phương sai ANOVA và chi phí giao dịch; Vasileiou và Morris (2006), Ganeshkumar và cộng sự (2017), Frick và cộng sự (2012), Moazzem và Fujita (2004), Fuglie (2002) khảo sát các khía cạnh kỹ năng nông dân, hệ thống kho lạnh và cơ chế định giá rủi ro; Hobbs (1998), Sagheer và cộng sự (2009), Minten và cộng sự (2013), Taylor (2005) nghiên cứu về năng lực SCM, xây dựng thương hiệu và phân tích dòng giá trị.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu nền tảng được đề cập gồm: Đỗ Thị Bích Thủy (2009) về quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi; Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011, 2013) phân tích chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng lúa gạo ĐBSCL, nhấn mạnh sự kết hợp giữa dòng chảy xuôi (quản lý vận hành) và dòng chảy ngược (đáp ứng tín hiệu thị trường); Võ Văn Thanh, Lê Ngọc Quỳnh Lam và Nguyễn Thị Kim Pho (2015) chỉ ra thực trạng chuỗi lúa gạo qua nhiều tầng nấc trung gian, thiếu liên kết và logistics lạc hậu; Võ Thị Thanh Lộc và cộng sự (2016) tổng kết thực trạng khủng hoảng cung cầu và suy giảm sức cạnh tranh của các nông sản chủ lực ĐBSCL giai đoạn 2009-2016.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: ứng dụng cách tiếp cận tích hợp quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi cung ứng (Agri-food Supply Chain Quality Management - ASCQM) vào một đối tượng cụ thể là giống lúa đặc sản Tài Nguyên tại ĐBSCL. Trước đó, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận theo chuỗi giá trị chung cho lúa gạo hàng hóa thương phẩm đại trà, chưa đi sâu giải quyết cơ chế suy thoái chất lượng của một giống lúa bản địa có nhãn hiệu tập thể xuyên suốt từ khâu chọn giống, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng, nguồn nước, công nghệ sau thu hoạch cho đến hành vi gian lận thương mại ở khâu tiêu thụ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết chuỗi cung ứng và quản trị chất lượng:
- Khung quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM): Kết hợp dòng chảy xuôi (quản lý hiệu quả kỹ thuật từ giống, canh tác, sau thu hoạch đến phân phối) và dòng chảy ngược (quản lý chất lượng và số lượng dựa trên nhu cầu của thị trường tiêu thụ) theo mô hình của Christopher (2010) và Võ Thị Thanh Lộc - Nguyễn Phú Son (2013).
- Hệ thống quản lý chất lượng: Ứng dụng các nguyên lý cốt lõi của TQM, chu trình PDCA của Deming (1986), hệ thống tiêu chuẩn ISO, GMP, GHP, HACCP.
- Lý thuyết Just-in-Time (JIT): Luận án vận dụng mô hình JIT từ lĩnh vực công nghiệp sang nông nghiệp để đo lường "thời gian nhàn rỗi" (idle time) trong chuỗi cung ứng lúa gạo, xem thời gian tồn trữ dư thừa là yếu tố gây lãng phí chi phí và suy giảm chất lượng cảm quan của hạt gạo.
- Khái niệm chất lượng lúa gạo: Tiếp cận đa chiều gồm chất lượng cảm quan (độ bóng, màu sắc, mùi thơm, độ mềm, độ tơi xốp), chất lượng chế biến (tỷ lệ thu hồi gạo nguyên, tỷ lệ tấm), và tính chất hóa lý (đặc biệt là hàm lượng amyloza quyết định độ cứng của cơm).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Phương pháp tiếp cận: Sử dụng phương pháp liên kết chuỗi ValueLinks theo hướng dẫn của tổ chức GTZ (2007).
- Nghiên cứu định tính: Tiến hành đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), thảo luận nhóm tập trung (FGD) và phỏng vấn sâu các chuyên gia nông nghiệp, cán bộ quản lý địa phương thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh Long An và Sóc Trăng.
- Nghiên cứu định lượng: Tổng kích thước mẫu khảo sát thực tế đạt 577 quan sát (trong đó tóm tắt tiếng Anh ghi nhận 506 mẫu hợp lệ phục vụ một số phân tích chuyên sâu). Cơ cấu mẫu phân bổ đa tầng bao gồm: nông hộ sản xuất lúa, thương lái, chủ nhà máy xay xát, công ty kinh doanh lương thực, đại lý bán buôn, người bán lẻ và người tiêu dùng trực tiếp tại các tỉnh Long An, Sóc Trăng, Cần Thơ, Tiền Giang, Trà Vinh.
- Thử nghiệm hóa tính: Đo lường hàm lượng amyloza trong phòng thí nghiệm trên các mẫu gạo Tài Nguyên trước và sau khi phục tráng giống nhằm cung cấp bằng chứng khách quan.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu:
- Thống kê mô tả và phân tích kinh tế chuỗi (lợi ích - chi phí).
- Kiểm định trung bình từng cặp (Paired-sample t-test) nhằm so sánh các chỉ tiêu chất lượng cảm quan giữa thời điểm trước năm 2009 và năm 2014.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha cho các nhóm biến hoạt động quản lý chất lượng và quản lý nhà nước.
- Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định độ phù hợp của mô hình đo lường các yếu tố quản lý.
- Phân tích hồi quy nhị phân (Binary Logistic) và hồi quy tuyến tính đa biến (Multivariate Linear Regression) để lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố kỹ thuật và quản trị đến chất lượng lúa gạo.
- Kiểm tra các khuyết tật mô hình: hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF) và hiện tượng phương sai sai số thay đổi (White test).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập cơ sở khoa học của đề tài: phân tích vị thế của ngành lúa gạo Việt Nam (sản lượng 43,98 triệu tấn năm 2018 theo Tổng cục Thống kê, xuất khẩu 6-7 triệu tấn); nhận diện điểm nghẽn về việc gạo Việt Nam xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, không thương hiệu và phân loại thuần túy theo tỷ lệ tấm (5%, 10%, 15%, 25%). Tác giả nêu bật sự suy giảm chất lượng nghiêm trọng của giống lúa mùa đặc sản Tài Nguyên tại ĐBSCL từ sau năm 2009. Chương này công bố chi tiết mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể), 3 câu hỏi nghiên cứu, 2 giả thuyết nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian - thời gian, tính đại diện của địa bàn khảo sát (Sóc Trăng và Long An), giới hạn về phương pháp lượng hóa và bố cục 5 chương của luận án.
Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết
Chương này trình bày hệ thống lý luận về chất lượng sản phẩm, các đặc tính chất lượng nông sản (dinh dưỡng, an toàn, cảm quan, chức năng), các hệ thống quản trị chất lượng (TQM, ISO, HACCP, GMP, GHP, JIT). Chương 2 làm rõ bản chất của chuỗi cung ứng nông sản (AFSC), cấu trúc dòng chảy xuôi và dòng chảy ngược, mô hình quản lý chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM) của Kuei và Madu (2001). Tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phác thảo sơ đồ vận hành chuỗi cung ứng lúa gạo Tài Nguyên tại ĐBSCL, đồng thời xác lập khung nghiên cứu và luận giải tính mới của luận án.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chuẩn hóa các khái niệm về chất lượng lúa gạo, hệ thống đo lường chất lượng gạo quốc tế và xu hướng tiêu dùng theo thị trường. Tác giả trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu phân tầng theo chuỗi liên kết tại huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng) và huyện Cần Đước (Long An). Chương này mô tả thiết kế thang đo cho các nhóm yếu tố: yếu tố khâu sản xuất, yếu tố khâu bảo quản - chế biến, yếu tố khâu tiêu thụ, thang đo hoạt động quản lý chất lượng và thang đo quản lý nhà nước. Tác giả cụ thể hóa các công cụ thống kê ứng dụng: phân tích Paired-sample t-test, EFA, CFA, hồi quy đa biến, kiểm định chẩn đoán mô hình và phương pháp đo hàm lượng amyloza.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 cung cấp toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm của luận án, được chia thành các nội dung chính:
- Sự thay đổi chất lượng gạo Tài Nguyên: Kết quả điều tra cảm quan người tiêu dùng xác nhận gạo Tài Nguyên năm 2014 không còn hạt nhuyễn và đục sữa, giảm độ tơi xốp, khi để nguội cơm bị cứng. Kiểm định Paired-sample t-test giữa mẫu gạo thời điểm 2014 và trước năm 2009 cho thấy sự suy giảm có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các thuộc tính chất lượng. Phân tích hóa tính chỉ ra hàm lượng amyloza có sự biến động rõ rệt giữa nguồn giống nguyên thủy và giống lúa qua các chu kỳ canh tác chưa được phục tráng chuẩn mực.
- Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng trong từng khâu:
- Khâu sản xuất: Hồi quy đa biến xác định ba yếu tố tác động tiêu cực nhất đến chất lượng lúa gạo là việc sử dụng giống chưa phục tráng, nguồn nước lợ bị suy giảm/ngăn mặn và việc lạm dụng chất ức chế sinh trưởng chứa Paclobutrazol để kích thích lúa trổ ngắn ngày (rút ngắn từ 6 tháng xuống 4,5 tháng).
- Khâu bảo quản và chế biến: Các yếu tố thời gian lưu trữ lúa ẩm trước khi sấy, công nghệ sấy thủ công, thiết bị xay xát lạc hậu và thời gian tồn trữ gạo sau xay ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ hạt gãy nát và độ giữ mùi của sản phẩm.
- Khâu tiêu thụ: Tình trạng các cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp chủ động đấu trộn gạo Sóc Miên (nhập lậu từ Campuchia, hạt đục giống Tài Nguyên nhưng phẩm cấp thấp, giá rẻ) cùng việc người bán lẻ phối trộn các loại gạo mềm (OM4900, Nàng Hoa, ST, RVT, Một Bụi) làm suy thoái tính nguyên bản của sản phẩm trên thị trường.
- Tác động của quản lý chất lượng và quản lý nhà nước: Kết quả phân tích nhân tố (EFA, CFA) và mô hình hồi quy đa biến khẳng định hai hoạt động cốt lõi của quản lý chất lượng là "hoạch định" và "kiểm tra" có ảnh hưởng xuyên suốt đến chất lượng lúa gạo ở tất cả các khâu. Về quản lý nhà nước, các biến số hỗ trợ nghiên cứu khoa học, xây dựng và quảng bá thương hiệu, kiểm soát thị trường, cung ứng tín dụng, chính sách đầu tư nông nghiệp và hạ tầng nông thôn đều có tác động tích cực đến chất lượng gạo.
- Thời gian nhàn rỗi (idle time) và liên kết chuỗi: Ứng dụng mô hình JIT cho thấy chuỗi cung ứng tồn tại nhiều quãng thời gian chờ đợi không tạo ra giá trị gia tăng giữa khâu thu hoạch, sấy, xay xát và xuất kho. Mối liên kết ngang giữa các nông hộ trong tổ hợp tác/hợp tác xã còn lỏng lẻo; liên kết dọc giữa nông dân và doanh nghiệp thu mua gần như vắng bóng, giao dịch chủ yếu dựa vào thương lái trung gian.
| Khâu trong chuỗi |
Yếu tố ảnh hưởng chính |
Biểu hiện thực tế theo văn bản |
Kết quả kiểm định/Hồi quy |
| Sản xuất |
- Giống lúa - Nguồn nước lợ - Paclobutrazol |
Nông dân dùng thuốc ức chế sinh trưởng rút ngắn vụ mùa còn 4,5 tháng; bón nhiều phân đạm; đất thiếu hữu cơ; nguồn nước lợ bị ô nhiễm và ngăn mặn. |
Tác động có ý nghĩa thống kê làm giảm độ xốp, làm cứng cơm và mất hương vị tự nhiên. |
| Bảo quản & Chế biến |
- Thời gian chờ sấy/xay - Công nghệ sấy - Công nghệ xay xát - Thời gian lưu kho |
Lúa chậm được sấy sau thu hoạch; lò sấy tĩnh vỉ ngang lạc hậu; máy xay chà làm gãy hạt; tồn kho kéo dài làm giảm phẩm chất. |
Thời gian nhàn rỗi cao làm tăng tỷ lệ tấm và giảm độ thơm của gạo sau xay xát. |
| Tiêu thụ |
- Hiện tượng đấu trộn |
Doanh nghiệp mua lúa TN xay chà rồi trộn với gạo Sóc Miên (Campuchia); bán lẻ trộn với OM4900, Nàng Hoa, ST, Một Bụi. |
Tác động làm biến đổi thuộc tính cảm quan nguyên bản, suy giảm uy tín nhãn hiệu trên thị trường. |
| Quản trị chất lượng |
- Hoạch định - Kiểm tra |
Các tác nhân thiếu quy trình chuẩn; việc kiểm tra chất lượng chỉ diễn ra cảm tính ở khâu cuối, thiếu kiểm soát phòng ngừa. |
Hai nhân tố Hoạch định và Kiểm tra tác động có ý nghĩa đến chất lượng ở cả 3 khâu. |
| Quản lý Nhà nước |
- Quản lý thị trường - Hỗ trợ KH-CN - Hạ tầng, vốn |
Thiếu kiểm soát hành vi gian lận thương mại; nhãn hiệu tập thể chưa được bảo vệ; hỗ trợ kỹ thuật phục tráng giống còn hạn chế. |
Các chính sách hỗ trợ kỹ thuật, vốn và quản lý thị trường tác động thuận chiều đến chất lượng chuỗi. |
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 5 tóm tắt các phát hiện căn bản: khẳng định giả thuyết chất lượng lúa gạo Tài Nguyên suy giảm so với trước năm 2009 là chính xác; hệ thống hóa các nguyên nhân kỹ thuật và quản lý dọc theo chuỗi. Từ đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp quản trị mang tính đồng bộ: rà soát quy hoạch vùng chuyên canh nước lợ; hoàn thiện chính sách phục tráng giống; vận động nông dân sản xuất theo vụ mùa 6 tháng không dùng chất Paclobutrazol; tổ chức liên kết chuỗi thông qua vai trò nòng cốt của ban quản lý hợp tác xã; đầu tư đổi mới công nghệ sấy và xay xát; tăng cường kiểm tra, xử lý hành vi đấu trộn gạo giả mạo thương hiệu Tài Nguyên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Đề tài là công trình đầu tiên tại Việt Nam và vùng ĐBSCL áp dụng cách tiếp cận tích hợp quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi cung ứng (ASCQM) đối với sản phẩm lúa gạo đặc sản. Luận án đã hệ thống hóa và làm phong phú cơ sở lý thuyết về SCQM trong nông nghiệp thông qua việc kết hợp dòng chảy xuôi và dòng chảy ngược; đồng thời đóng góp khung phân tích, phương pháp định lượng và bộ thang đo đo lường hoạt động quản lý chất lượng và quản lý nhà nước đối với chuỗi cung ứng nông sản. Việc đưa tư duy JIT vào phân tích thời gian nhàn rỗi (idle time) tạo ra hướng tiếp cận mới trong đánh giá tổn thất chất lượng sau thu hoạch.
- Về thực tiễn: Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về sự suy giảm chất lượng gạo Tài Nguyên, bóc tách chính xác các nguyên nhân cốt lõi ở từng công đoạn (hoạt chất Paclobutrazol, nguồn nước lợ, công nghệ chế biến và hành vi đấu trộn gạo Sóc Miên). Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý nông nghiệp tại Long An, Sóc Trăng và các tỉnh ĐBSCL xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình quản lý chất lượng và quy hoạch vùng sản xuất bền vững.
Các giải pháp và kiến nghị đề xuất bao gồm:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Rà soát và ban hành chính sách hỗ trợ phục tráng giống lúa Tài Nguyên; tiến hành nghiên cứu thổ nhưỡng và thử nghiệm quy trình kỹ thuật có đối chứng; tăng cường kiểm tra thị trường, chấn chỉnh đạo đức kinh doanh, ngăn chặn tình trạng đấu trộn gạo kém chất lượng; hỗ trợ vốn và công nghệ chế biến cho các doanh nghiệp liên kết.
- Nông dân và tổ hợp tác: Thiết lập liên kết ngang, cam kết tuân thủ quy trình canh tác vụ mùa 6 tháng, tuyệt đối không sử dụng thuốc ức chế sinh trưởng Paclobutrazol, giảm phân bón đạm hóa học; phát huy vai trò của tổ trưởng tổ hợp tác trong việc đàm phán hợp đồng tiêu thụ dài hạn với doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp và nhà máy xay xát: Nâng cấp công nghệ sấy tháp, công nghệ xay xát hiện đại giảm tỷ lệ tấm; tổ chức hệ thống kho dự trữ ngắn hạn khoa học để giảm thiểu thời gian nhàn rỗi làm suy giảm phẩm chất lúa gạo; tuân thủ cam kết chất lượng theo hợp đồng liên kết.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ hạn chế về mặt phương pháp lượng hóa: cơ sở dữ liệu thu thập không đủ điều kiện để thực hiện phân tích nhân tố khẳng định (CFA) tổng thể gộp chung cho cả ba khâu sản xuất, bảo quản chế biến và tiêu thụ lúa gạo Tài Nguyên. Nguyên nhân là các biến độc lập và biến phụ thuộc ở từng công đoạn không có cùng thang đo, đồng thời hình thái và tính chất sản phẩm biến đổi hoàn toàn qua các mắt xích (từ lúa tươi sang lúa khô, hạt gạo lứt, gạo trắng và cơm chín). Do đó, phân tích tác động tại mục tiêu 2 chỉ dừng lại ở việc ước lượng các mô hình hồi quy đa biến riêng biệt cho từng khâu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất là: tiếp tục hoàn thiện khung dữ liệu và chuẩn hóa thang đo đồng bộ nhằm ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM/CFA) đồng thời cho toàn bộ chuỗi cung ứng nông sản trong các nghiên cứu tương lai.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Hữu ích trong việc tham khảo khung phân tích tích hợp SCQM, phương pháp luận nghiên cứu chuỗi cung ứng nông sản theo ValueLinks, quy trình thiết kế thang đo EFA/CFA và kỹ thuật lồng ghép mô hình JIT trong quản trị sau thu hoạch.
- Các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh ĐBSCL): Cung cấp số liệu thực tế để ban hành các quy chuẩn kỹ thuật canh tác lúa đặc sản, kiểm soát việc lưu hành hóa chất ức chế sinh trưởng và hoàn thiện cơ chế bảo hộ nhãn hiệu tập thể ("Tài Nguyên Chợ Đào", "Tài Nguyên Châu Hưng").
- Doanh nghiệp kinh doanh lương thực và hợp tác xã nông nghiệp: Cung cấp tài liệu hướng dẫn kiểm soát các điểm tới hạn về thời gian lưu kho, công nghệ sấy và quy chuẩn chống đấu trộn nhằm nâng cao chất lượng hạt gạo thương phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Những nguyên nhân kỹ thuật trực tiếp nào trong khâu sản xuất làm suy giảm chất lượng gạo Tài Nguyên sau năm 2009?
Nguyên nhân kỹ thuật trực tiếp gồm: nông dân sử dụng giống lúa thoái hóa chưa được phục tráng; lạm dụng thuốc ức chế sinh trưởng có hoạt chất Paclobutrazol và tăng phân bón hóa học để rút ngắn chu kỳ sinh trưởng từ 6 tháng xuống 4,5 tháng nhằm chống đổ ngã; nguồn nước lợ tự nhiên bị ô nhiễm và bị suy giảm do hệ thống công trình ngăn mặn.
2. Gạo Tài Nguyên bị đấu trộn với loại gạo nào trên thị trường và nhằm mục đích gì?
Tại các doanh nghiệp và nhà máy xay xát, lúa gạo Tài Nguyên bị chủ động đấu trộn với gạo Sóc Miên nhập khẩu từ Campuchia (loại gạo có hình thức hạt đục tương tự Tài Nguyên nhưng chất lượng kém hơn và giá thành rẻ) để trục lợi khi tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu tiểu ngạch. Ở khâu bán lẻ, người bán và người tiêu dùng đấu trộn gạo Tài Nguyên với các giống gạo mềm (OM4900, Nàng Hoa, ST, RVT, Một Bụi) do cơm Tài Nguyên thuần chủng sau năm 2009 bị quá khô cứng.
3. Hoạt động quản lý chất lượng nào của các tác nhân có ảnh hưởng xuyên suốt đến tất cả các khâu trong chuỗi cung ứng?
Kết quả phân tích định lượng xác nhận hai yếu tố thuộc hoạt động quản lý chất lượng là "hoạch định" và "kiểm tra" có tác động trực tiếp và có ý nghĩa thống kê đến chất lượng lúa gạo ở tất cả các khâu từ sản xuất, bảo quản chế biến đến tiêu thụ.
4. Khái niệm thời gian nhàn rỗi (idle time) theo mô hình JIT được ứng dụng như thế nào trong luận án?
Thời gian nhàn rỗi được xác định là khoảng thời gian lúa hoặc gạo nằm chờ tại các mắt xích (chờ sấy sau gặt, chờ xay xát sau sấy, lưu kho gạo sau xay xát) mà không làm tăng thêm giá trị sử dụng. Thời gian nhàn rỗi càng kéo dài làm gia tăng chi phí lưu kho và làm suy giảm trực tiếp các thuộc tính cảm quan (độ bóng, mùi thơm, độ mềm cơm) của lúa gạo.
5. Vì sao luận án không thực hiện phân tích nhân tố khẳng định (CFA) chung cho cả ba khâu trong chuỗi cung ứng?
Tác giả không thể thực hiện CFA gộp chung do cơ sở dữ liệu không đồng nhất về thang đo giữa các biến độc lập và phụ thuộc, đồng thời bản chất lý - hóa của sản phẩm thay đổi hoàn toàn qua các khâu (hạt lúa tươi ngoài đồng, hạt lúa khô trong kho, hạt gạo thương phẩm và sản phẩm cơm chín).
Kết luận
Luận án của tác giả Tất Duyên Thư đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm rõ thực trạng và nguyên nhân suy giảm chất lượng lúa gạo Tài Nguyên vùng ĐBSCL sau năm 2009 dưới góc độ chuỗi cung ứng. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp thử nghiệm hóa tính, tác giả chứng minh sự suy thoái chất lượng bắt nguồn từ các sai lệch kỹ thuật canh tác (Paclobutrazol, phân bón, nguồn nước), công nghệ chế biến lạc hậu và hành vi gian lận đấu trộn thương mại. Các phát hiện thực nghiệm cùng hệ thống giải pháp quản trị chất lượng chuỗi cung ứng cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho công tác quản lý nhà nước và chiến lược phục hồi thương hiệu lúa gạo đặc sản bản địa.