LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia có lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế biển. Về tự nhiên, Việt Nam có bờ biển dài, vùng biển đặc quyền rộng., hơn nữa, vị trí địa lý của nước ta có tính chiến lược, nằm trên luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế giới. Do vậy, kinh tế biển luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng, không ngừng phát huy vai trò quan trọng trong tiến trình tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước.
Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, nhấn mạnh mục tiêu tổng quát đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh. Như vậy, trong điều kiện hiện nay, một yếu tố để hiện thực hóa Chiến lược biển Việt Nam là phát triển ngành công nghiệp đóng tàu một cách hiệu quả. Khi đó, ngành công nghiệp đóng tàu có thể góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển như vận tải biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn… cũng như các hoạt động khai thác liên quan đến biển như khai thác thủy hải sản, dầu khí… tạo thành một tổng thể chặt chẽ, đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, sự cạnh tranh từ các đối thủ rất khốc liệt trong khi Nhà nước không thể tiếp tục trợ cấp và cũng không có khả năng trợ cấp do tiềm lực ngân sách còn hạn chế, lợi thế về nhân công giá rẻ đang dần yếu đi, và quan trọng nhất là ngành công nghiệp phụ trợ còn non kém do không có một thị trường đủ lớn.
Để ngành công nghiệp đóng tàu có thể phát triển bền vững, chúng ta chỉ có thể lựa chọn tập trung đầu tư vào chất lượng, không chỉ chất lượng sản phẩm mà cả chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam cần tìm ra phương thức kết hợp lợi thế vốn có của mình là lao động rẻ với công nghệ tiên tiến của nước ngoài, mở rộng thêm cơ hội và phương thức đầu tư cho các đối tác nước ngoài, từ đó thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh đó, với đặc điểm là một ngành có nhiều yếu tố kỹ thuật, nhiều công đoạn, đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng chuẩn xác, các giải pháp cần phải thực hiện đồng bộ, trong đó cần đặc biệt quan tâm tới giải pháp tăng cường công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu của Việt Nam vì việc áp dụng nghiêm túc các tiêu chuẩn vào quá trình sản xuất và quản lý đóng tàu là một trong những công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng. Bên cạnh đó, với các đặc điểm của ngành đóng tàu nêu trên, tiêu chuẩn hóa giữ một vai trò quan trọng đối với những hoạt động thực tiễn cũng như các định 9 hướng phát triển trong tương lai.
Công tác tiêu chuẩn hóa được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn không những giúp các công ty thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau hoạt động có nề nếp, hiệu quả mà còn tạo tiền đề cho các công ty này phát triển hài hòa và tạo điều kiện hợp tác thuận lợi trong mọi lĩnh vực giao lưu thương mại trên phạm vi khu vực và quốc tế. Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu bao gồm hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn và tiêu chuẩn hóa đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý đóng tàu. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Nhà nước ta đã coi trọng và chỉ đạo thực hiện công tác tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực đóng tàu nói riêng và trong mọi hoạt động của nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, vào thời kỳ đó, hoạt động tiêu chuẩn hóa chỉ được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, làm theo mệnh lệnh mà không bắt nguồn từ nhu cầu thực tế.
Công tác tiêu chuẩn hóa chủ yếu phục vụ yêu cầu quản lý của các cơ quan nhà nước mà chưa thu hút được sự tham gia rộng rãi và thực sự của các doanh nghiệp. Do vậy, công tác tiêu chuẩn hóa chỉ được thực hiện hời hợt, không được đánh giá, sửa đổi thường xuyên, các tiêu chuẩn lạc hậu và chỉ mang tính hình thức, không phát huy được vai trò đối với sự phát triển kinh tế. Mặt khác, vai trò của công tác tiêu chuẩn hóa cũng không được nhận thức đầy đủ, mọi người cho rằng tiêu chuẩn hóa chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật đơn thuần mà bỏ qua vai trò của tiêu chuẩn hóa, đặc biệt là tiêu chuẩn hóa công ty, đối với kinh tế, quản lý và pháp luật. Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu Việt Nam cũng không khác so với bối cảnh chung lúc đó, các tiêu chuẩn được ban hành không được áp dụng vào thực tế, chủ yếu tồn tại trên giấy tờ, ít hài hòa với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, công tác tiêu chuẩn hóa ít được quan tâm, đầu tư manh mún, bộc lộ những hạn chế yếu kém về quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm và hoạt động không có lãi.
Đến năm 2006, khi luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật được ban hành, công tác tiêu chuẩn hóa đã thay đổi từ tư duy đến tổ chức và phương pháp thực hiện. Công tác tiêu chuẩn hóa được thực hiện theo hệ thống xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân bước đầu tự nguyện tham gia vào quá trình xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình. Đối với các công ty đóng tàu, trong bối cảnh mở cửa nền kinh tế để phát triển và hội nhập, công tác tiêu chuẩn hóa công ty cũng đã có những bước đầu đổi mới nhưng chưa thực sự khởi sắc, vẫn còn một số điểm bất cập như: - Hệ thống tiêu chuẩn còn lạc hậu, kém hiệu quả và chưa theo kịp trình độ phát triển của công nghệ đóng tàu, chưa đáp ứng được các yêu cầu từ khách hàng.
10 - Các quy định về xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu chưa được thực hiện nghiêm túc, chưa thành hệ thống đầy đủ, đồng bộ, tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế chưa cao. - Công tác tiêu chuẩn hóa chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Như vậy, ngành công nghiệp đóng tàu đang đứng trước thách thức về chiến lược phát triển đã được Đảng, Nhà nước xác định, nhưng đây cũng là cơ hội để ngành công nghiệp đóng tàu tự vươn lên, phát triển thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn. Trong bối cảnh này, giải pháp hữu hiệu cho các công ty đóng tàu Việt Nam là tập trung nâng cao chất lượng, giảm chi phí thông qua các công cụ quản lý, cách thức tổ chức đóng tàu và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đại hay nói cách khác là thực hiện tốt công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu.
Khi đó, những lợi ích thiết thực cho mỗi công ty sẽ được đảm bảo, một mặt thúc đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững, tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm, bảo vệ môi trường, các lợi ích cộng đồng khác; mặt khác góp phần thuận lợi hóa thương mại, hạn chế và tiến tới xóa bỏ các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại quốc tế trong ngành đóng tàu. Tuy nhiên, để có thể làm tốt công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu Việt Nam, chúng ta cần phân tích đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng, công bố, áp dụng tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu, từ đó làm rõ những điểm yếu kém và đưa ra cách thức thực hiện phù hợp. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình. Mục đích nghiên cứu của luận án - Hệ thống hóa và góp phần phát triển các vấn đề lý luận chủ yếu của tiêu chuẩn hóa công ty, cụ thể: Nội dung các nguyên tắc của tiêu chuẩn hóa công ty; các tiêu chí đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công ty; các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu chuẩn hóa của công ty.
- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra ưu điểm/thành tích và hạn chế/ khuyết điểm trong hoạt động tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu, nguyên nhân của các hạn chế, khuyết điểm đó. - Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: 11 Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tế về công tác tiêu chuẩn hóa để từ đó nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa công ty và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tiêu chuẩn hóa công ty; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập. - Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá dựa trên những dữ liệu điều tra từ 2006 – 2013, qua đó đề ra biện pháp thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu cho đến năm 2015 - 2020.
Về không gian: Nghiên cứu, khảo sát điều tra được tiến hành tại 25 công ty đóng tàu có quy mô vừa và lớn của Việt Nam. Lưu đồ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 4.