Tổng quan luận án
Nền kinh tế Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) bắt đầu mở cửa và từng bước hội nhập vào kinh tế thế giới từ năm 1989. Tiến trình tái cơ cấu hoạt động thương mại và mở cửa kinh tế diễn ra mạnh mẽ sau khi Lào chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA) vào tháng 7 năm 1997. Theo các cam kết quốc tế, Lào bắt đầu thực hiện Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) từ tháng 1 năm 1998, cắt giảm thuế suất đánh vào hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN xuống 0–20% vào năm 2005 và tiếp tục hạ xuống 0–5% vào năm 2008. Đến tháng 1 năm 2013, Lào chính thức trở thành thành viên thứ 158 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Các cải cách thể chế gắn liền với hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy sự phát triển về quy mô của khu vực tiền tệ và hệ thống ngân hàng tại CHDCND Lào. Số lượng ngân hàng thương mại tăng lên nhanh chóng cùng sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài; quy mô tín dụng đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước lẫn khu vực tư nhân đều gia tăng để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thị trường chứng khoán chưa phát triển hoàn thiện.
Tuy nhiên, nền kinh tế và hệ thống tài chính - tiền tệ của Lào đồng thời phải đối mặt với nhiều bất cập mang tính cấu trúc:
- Tình trạng đô la hóa phổ biến ở mức cao kéo dài, làm suy giảm hiệu lực kiểm soát cung tiền và khả năng can thiệp độc lập về lãi suất của Ngân hàng Trung ương.
- Chính sách tài khóa lấn át chính sách tiền tệ, gây sức ép lên bảng cân đối tiền tệ và dự trữ ngoại hối.
- Hệ thống ngân hàng phát triển nhanh về số lượng nhưng năng lực tài chính, quản trị rủi ro và chất lượng hoạt động còn thấp, tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn nhiều rủi ro.
- Nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất khẩu tài nguyên tự nhiên (chịu tác động của hiện tượng "Căn bệnh Hà Lan" - Dutch disease), cán cân vãng lai thường xuyên thâm hụt và dự trữ ngoại hối ở mức thấp.
Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VI, VII, VIII, IX đã đề ra đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặt mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi danh sách các nước kém phát triển vào năm 2020. Để thực hiện các mục tiêu này, việc giải quyết các thách thức trong công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng nước CHDCND Lào là một yêu cầu cấp bách. Từ đó, nghiên cứu sinh Santy Phonmeuanglao đã thực hiện luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 62.01) với đề tài: "Đổi mới điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế".
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể trên hai phương diện:
- Về khía cạnh lý luận:
- Hệ thống hóa các lý luận về chính sách tiền tệ như khái niệm, công cụ và mục tiêu.
- Hệ thống hóa các lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
- Hệ thống hóa các lý luận về điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về khía cạnh thực tiễn:
- Trình bày bối cảnh kinh tế và môi trường hoạt động của chính sách tiền tệ tại Lào.
- Phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về chính sách tiền tệ, hội nhập kinh tế quốc tế, cơ chế tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế trong quá trình mở cửa hội nhập; thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào và các giải pháp hoàn thiện.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thực trạng hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2012–2013), có sự liên hệ và kế thừa bối cảnh mở cửa từ năm 1989 và định hướng đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm nghiên cứu chính:
-
Nhóm các nghiên cứu tại CHDCND Lào:
- Khamkinh Phanthavong (2003) nghiên cứu đổi mới hệ thống ngân hàng nhà nước Lào trong nền kinh tế thị trường, chỉ ra hạn chế về thẩm quyền hoạch định CSTT, sự thiếu hụt khung khổ pháp lý và nguồn nhân lực.
- Mi Moua (2003) phân tích giải pháp tín dụng ngân hàng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Lào, đề xuất tách bạch tín dụng thương mại và tín dụng chính sách.
- Watanabe Shinichi (2006) khảo sát tình trạng đô la hóa tại Campuchia, Lào và Việt Nam (giai đoạn 1991–2004), ghi nhận tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán tại Lào lên tới 60–70% do hệ quả của việc nới lỏng tài khóa và tiền tệ sau năm 1997.
- Patricia và Alicia (2008) phân loại mức độ đô la hóa tại các khu vực trên thế giới, xếp Lào vào nhóm quốc gia có mức độ đô la hóa cao.
- Phouphet Kyophilavong (2009) đánh giá chính sách vĩ mô của Lào, chỉ ra CSTT của Lào phụ thuộc chủ yếu vào các công cụ trực tiếp trong thập niên 1990 trước khi áp dụng thị trường mở và dự trữ bắt buộc từ năm 1999; đồng thời khẳng định việc mở rộng cung tiền và phá giá tỷ giá không đem lại tăng trưởng bền vững.
- Milan và Ekaterina (2010) phân tích hiện tượng "Căn bệnh Hà Lan" tại Lào khi nguồn thu từ tài nguyên tự nhiên được sử dụng cho hàng tiêu dùng nhập khẩu thay vì nhập khẩu tư liệu sản xuất.
- Phouphet Khamphounvong (2010) nghiên cứu giải pháp đổi mới hoạt động của Ngân hàng Trung ương Lào, nêu rõ sự thiếu hụt khuôn khổ truyền dẫn, tính độc lập thấp và cơ chế tỷ giá thiếu linh hoạt.
- Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2011, 2012) ghi nhận thực trạng thâm hụt cán cân vãng lai, tỷ lệ cho vay trên huy động tăng cao (từ 55% năm 2008 lên 75% năm 2010 và 81,4% năm 2011), áp lực thanh khoản và quy mô phát hành tín phiếu tăng từ 124 triệu USD lên 266 triệu USD cuối năm 2011.
- Somphao Phaysith (2012) ước lượng hàm cầu tiền tại Lào giai đoạn 1993–2010 qua 6 mô hình kinh tế lượng để xác định mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ.
-
Nhóm các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Các công trình của Nguyễn Kim Dung (2004), Nguyễn Văn Khách (2006), Nguyễn Thị Kim Thanh (2005, 2008), Đoàn Phương Thảo (2010), Chu Thị Hồng Minh (2005), Phạm Thị Thư (2010), Mai Lan Hương (2010), Khuất Duy Tuấn (2012), Đặng Thị Huyền Anh (2012), Chu Khánh Lân và Nguyễn Minh Phương (2012), Hoàng Thị Lan Hương (2013), Ủy ban Kinh tế Quốc hội Việt Nam (2012)... Các tác giả đã phân tích kinh nghiệm chuyển đổi công cụ điều hành CSTT từ trực tiếp sang gián tiếp, cơ chế truyền dẫn qua lãi suất, tỷ giá và tín dụng, việc kiểm soát lạm phát, các cú sốc dòng vốn sau khi gia nhập WTO và điều kiện áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu.
-
Nhóm các nghiên cứu quốc tế:
- Các mô hình Mundell-Fleming, trường phái New Keynesian, cùng nghiên cứu của Montot và Vitale (2009), Woodford (2007), Devereux và Sutherland (2008), Rogoff (2004), Spiegel (2008), Bernanke (2008), Kamin (2010), Cooper và Little (2001)... phân tích ảnh hưởng của toàn cầu hóa và hội nhập tài chính đối với tính độc lập của CSTT, vai trò của cơ chế tỷ giá, các kênh truyền dẫn cú sốc thanh khoản và hạn chế của NHTW trong vai trò người cho vay cuối cùng khi thanh khoản bị chi phối bởi ngoại tệ mạnh.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình tại Lào trước đây chủ yếu tiếp cận riêng lẻ từng khía cạnh như cơ cấu hệ thống ngân hàng, hoạt động tín dụng, hiện tượng đô la hóa hoặc mô hình cầu tiền đơn lẻ. Luận án của nghiên cứu sinh Santy Phonmeuanglao là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về cơ sở lý luận lẫn thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong suốt tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1997 đến 2012–2013, phân kỳ chi tiết theo 4 giai đoạn cụ thể để xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm và mô hình kinh tế học vĩ mô chuẩn tắc:
- Khái niệm chính sách tiền tệ: Luận án tổng hợp định nghĩa của Ngân hàng Trung ương Canada, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đưa ra định nghĩa tổng quát: CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ được thực hiện bởi NHTW thông qua hệ thống các công cụ nhằm tác động tới lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế để đạt các mục tiêu kinh tế quốc gia.
- Hệ thống mục tiêu:
- Mục tiêu cuối cùng: Duy trì giá cả ổn định (kiểm soát lạm phát), duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì sự ổn định của thị trường tài chính, ổn định lãi suất và ổn định thị trường ngoại hối.
- Mục tiêu trung gian và hoạt động: Lượng tiền cung ứng (M2), tiền dự trữ (tiền cơ sở), lãi suất ngắn hạn thị trường liên ngân hàng.
- Khung phân tích hội nhập kinh tế quốc tế:
- 4 mức độ hội nhập: Đơn phương, song phương, khu vực/liên khu vực và đa phương.
- 5 mô hình liên kết kinh tế từ thấp đến cao: Khu vực mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (Customs Union), Thị trường chung (Common Market), Liên minh tiền tệ (Monetary Union), và Liên minh kinh tế (Economic Union).
- Mô hình phân tích định tính và lý thuyết:
- Mô hình IS - LM - BP (Mundell-Fleming): Phân tích hiệu quả tương đối của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa dưới các cơ chế tỷ giá khác nhau (cố định và thả nổi) và các mức độ di chuyển vốn khác nhau (vốn lưu chuyển dễ dàng và không dễ dàng).
- Lý thuyết Tam giác bộ ba bất khả thi (Impossible Trinity): Chỉ ra mối quan hệ đánh đổi giữa ba mục tiêu: độc lập chính sách tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái và tự do hóa dòng vốn.
- Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ: Kênh lãi suất, kênh giá tài sản (tỷ giá, giá chứng khoán, của cải), và kênh tín dụng.
- Đặc điểm điều hành CSTT trong bối cảnh hội nhập: Gia tăng tính linh hoạt, tính không chắc chắn và sự hiện diện của ba loại độ trễ (độ trễ nhận biết, độ trễ thực thi, độ trễ tác động).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thống kê mô tả, thu thập và xử lý chuỗi số liệu thứ cấp về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và tiền tệ của CHDCND Lào trong giai đoạn 1995–2013.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu diễn biến các biến số kinh tế qua từng giai đoạn và so sánh với kinh nghiệm điều hành của các quốc gia trong khu vực (Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp và diễn dịch để đánh giá mối quan hệ giữa các công cụ CSTT, mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng.
- Trực quan hóa dữ liệu thông qua hệ thống các bảng số liệu thống kê (4 bảng) và biểu đồ (30 biểu đồ), hình vẽ minh họa các mô hình cân bằng vĩ mô (12 hình vẽ).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong luận án được trích xuất từ các nguồn chính thức:
- Báo cáo thường niên và số liệu thống kê của Ngân hàng nước CHDCND Lào (BOL).
- Số liệu từ các Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 4, lần thứ 5 và lần thứ 6 của CHDCND Lào.
- Báo cáo và dữ liệu kinh tế của các tổ chức quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
- Các văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VI, VII, VIII, IX.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nội dung chính:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về CSTT, hệ thống ngân hàng, tình trạng đô la hóa và xuất khẩu tài nguyên tại CHDCND Lào (Khamkinh Phanthavong, Mi Moua, Phouphet Kyophilavong, Milan & Ekaterina, Phouphet Khamphounvong, Somphao Phaysith, các báo cáo của WB).
- Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về đổi mới công cụ CSTT, phát triển thị trường mở, cơ chế truyền dẫn, kiểm soát lạm phát và điều hành tỷ giá trong quá trình gia nhập WTO và hội nhập quốc tế (Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Văn Khách, Nguyễn Thị Kim Thanh, Đoàn Phương Thảo, Khuất Duy Tuấn, Đặng Thị Huyền Anh, Chu Khánh Lân & Nguyễn Minh Phương...).
- Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm quốc tế về tính độc lập của CSTT, mô hình Mundell-Fleming, cơ chế truyền dẫn cú sốc thanh khoản trong điều kiện hội nhập tài chính (Woodford, Rogoff, Spiegel, Bernanke, Kamin, Cooper & Little...).
- Luận giải vị trí nghiên cứu của luận án, khẳng định tính độc lập, không trùng lặp và xác định khoảng trống cần giải quyết đối với trường hợp CHDCND Lào.
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2 trình bày khung lý thuyết toàn diện về CSTT và điều hành CSTT trong nền kinh tế mở:
- Phân tích bản chất, chức năng, mục tiêu cuối cùng và các nhóm công cụ của CSTT (công cụ trực tiếp như hạn mức tín dụng, khung lãi suất; công cụ gián tiếp như dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở).
- Khái quát về bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế, phân loại 4 mức độ và 5 mô hình liên kết kinh tế từ FTA đến Liên minh kinh tế; làm rõ các cơ hội mở rộng thị trường và thách thức gia tăng rủi ro lan truyền cú sốc.
- Luận giải các đặc điểm điều hành CSTT khi mở cửa nền kinh tế: tính linh hoạt tăng lên do phải đối phó với dòng vốn biến động, mức độ không chắc chắn gia tăng do tác động từ các yếu tố bên ngoài, và ba loại độ trễ của chính sách (nhận biết, thực thi, tác động).
- Phân tích cơ chế tác động của CSTT và CSTK thông qua mô hình IS - LM - BP và Tam giác bộ ba bất khả thi:
- Dưới cơ chế tỷ giá cố định: CSTT kém hiệu lực trong việc thay đổi sản lượng thực tế do NHTW phải can thiệp ngoại hối để duy trì tỷ giá, làm triệt tiêu sự thay đổi của cung tiền nội tệ; CSTK có hiệu lực cao khi vốn chu chuyển tự do.
- Dưới cơ chế tỷ giá thả nổi: CSTT phát huy hiệu lực cao trong việc tác động đến sản lượng thông qua biến động của tỷ giá hối đoái và xuất khẩu ròng; CSTK bị suy giảm hiệu lực do hiện tượng lấn át tỷ giá.
- Phân tích việc sử dụng các công cụ can thiệp trung hòa (sterilization) của NHTW để hút bớt thanh khoản nội tệ dư thừa khi mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối.
Chương 3: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3 phân tích diễn biến kinh tế vĩ mô và thực trạng điều hành CSTT của Lào trong giai đoạn 1997–2012 qua 4 giai đoạn cụ thể:
| Giai đoạn |
Bối cảnh kinh tế vĩ mô & Áp lực chính sách |
Biện pháp điều hành CSTT chủ yếu |
Kết quả & Hạn chế nổi bật |
| 1997 – Quý 2/2002 |
Ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng châu Á 1997; lạm phát phi mã (năm 1998–1999); đồng Kip mất giá nghiêm trọng; thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 4. |
Sử dụng các công cụ trực tiếp (trần tín dụng, can thiệp lãi suất hành chính); bắt đầu đưa vào áp dụng dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở từ năm 1999. |
Tỷ lệ đô la hóa tăng vọt (tiền gửi ngoại tệ chiếm 60–70% tổng phương tiện thanh toán); lòng tin vào đồng Kip suy giảm mạnh. |
| Quý 3/2002 – 2005 |
Phục hồi kinh tế; thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 5; bắt đầu cắt giảm thuế nhập khẩu theo CEPT/AFTA; tăng trưởng GDP cải thiện. |
Từng bước chuyển đổi sang công cụ gián tiếp; kiểm soát mức tăng cung tiền M2 theo đẳng thức số lượng tiền tệ; điều chỉnh lãi suất tiền gửi và cho vay. |
Lạm phát hạ nhiệt so với giai đoạn trước nhưng áp lực tiền tệ vẫn lớn; hệ thống ngân hàng bắt đầu tái cấu trúc nợ xấu. |
| 2006 – 2010 |
Thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 6; dòng vốn FDI vào ngành khai khoáng và thủy điện tăng mạnh; khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. |
Điều hành kết hợp giữa lãi suất chiết khấu, trái phiếu Chính phủ và tín phiếu NHTW; cấp tín dụng trực tiếp cho dự án hạ tầng công cộng. |
Tín dụng tăng trưởng nóng; tỷ lệ cho vay/huy động tăng từ 55% (2008) lên 75% (2010); thâm hụt cán cân vãng lai gia tăng; biểu hiện "Căn bệnh Hà Lan". |
| 2011 – 2012/2013 |
Chuẩn bị và chính thức gia nhập WTO (1/2013); tăng trưởng kinh tế duy trì trên 7–8%; áp lực lạm phát do giá hàng hóa toàn cầu. |
Thắt chặt tiền tệ: tăng gấp đôi phát hành tín phiếu (từ 124 lên 266 triệu USD năm 2011); giảm cho vay dự án địa phương; kiểm soát tăng trưởng tín dụng tư nhân. |
Tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ giảm xuống 45% (2011) và 42,5% (2012); tỷ lệ cho vay/huy động lên 81,4% (2011); tỷ lệ nợ xấu báo cáo giảm từ 3,7% xuống 3,0%. |
Chương 3 đưa ra các đánh giá tổng hợp về thực trạng điều hành:
- Thành công: Góp phần kiềm chế lạm phát từ mức phi mã sau khủng hoảng 1997 về mức ổn định; từng bước thiết lập hệ thống công cụ gián tiếp; quy mô khu vực tiền tệ mở rộng (tỷ lệ M2/GDP tăng); giảm dần mức độ đô la hóa từ đỉnh 60–70% xuống còn 42,5% vào năm 2012.
- Tồn tại và nguyên nhân:
- Tình trạng đô la hóa vẫn ở mức cao so với khu vực (Việt Nam duy trì 11–12%), làm hạn chế quyền tự chủ tiền tệ.
- Thị trường tiền tệ liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở còn sơ khai, thiếu hàng hóa giao dịch chất lượng cao.
- Chính sách tài khóa lấn át chính sách tiền tệ; các khoản cho vay chỉ định dự án của chính quyền địa phương gây rủi ro thanh khoản.
- Tỷ lệ cho vay trên huy động ở mức cao (trên 80%), tạo áp lực thanh khoản thường trực đối với các NHTM nội địa.
- Cơ chế điều hành tỷ giá chưa thực sự phản ánh đúng quan hệ cung cầu thị trường; dự trữ ngoại hối mỏng khiến năng lực can thiệp hạn chế.
- Năng lực phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô và độ trễ chính sách lớn.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp đến năm 2020:
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội: Căn cứ Kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (2011–2015) và tầm nhìn 2020, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bền vững, kiểm soát lạm phát dưới mức tăng trưởng kinh tế, đưa Lào thoát khỏi danh sách các nước kém phát triển vào năm 2020.
- 5 nhóm giải pháp hoàn thiện điều hành CSTT:
- Hoàn thiện khuôn khổ mục tiêu CSTT: Xác định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát là ưu tiên hàng đầu; xác lập cơ chế truyền tải chính sách minh bạch; xây dựng lộ trình tiến tới khuôn khổ lạm phát mục tiêu khi các điều kiện tiền đề hoàn thiện.
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống công cụ CSTT:
- Nâng cấp nghiệp vụ thị trường mở thành công cụ chủ đạo để điều tiết vốn khả dụng; đa dạng hóa các loại giấy tờ có giá (tín phiếu NHTW, trái phiếu Chính phủ).
- Sử dụng linh hoạt công cụ dự trữ bắt buộc theo hướng thận trọng; kết hợp công cụ tái chiết khấu để tái định hướng cơ cấu tín dụng vào các ngành sản xuất mũi nhọn phi tài nguyên.
- Giảm dần và tiến tới xóa bỏ các biện pháp can thiệp hành chính trực tiếp (trần lãi suất, hạn mức tín dụng bắt buộc).
- Lựa chọn cơ chế tỷ giá phù hợp và chống đô la hóa: Chuyển đổi từng bước sang cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết với biên độ linh hoạt; thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý ngoại hối, nâng cao vị thế đồng Kip Lào để kéo giảm tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2.
- Nâng cao tính độc lập và năng lực của Ngân hàng nước CHDCND Lào: Tăng cường thẩm quyền cho NHTW trong việc hoạch định và thực thi CSTT; nâng cao chất lượng hệ thống thống kê, năng lực dự báo kinh tế lượng và rút ngắn độ trễ chính sách.
- Lành mạnh hóa và nâng cao năng lực hệ thống NHTM: Tái cơ cấu tài chính, xử lý triệt để nợ xấu thực chất; tăng cường thanh tra giám sát theo chuẩn mực quốc tế; kiểm soát tỷ lệ cho vay trên huy động ở mức an toàn.
- Các khuyến nghị bổ trợ:
- Tăng cường phối hợp đồng bộ giữa CSTT và CSTK, chấm dứt tình trạng tài trợ thâm hụt ngân sách qua hệ thống ngân hàng.
- Đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính, thị trường trái phiếu và hoàn thiện khung pháp lý kinh tế đối ngoại.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về chính sách tiền tệ, công cụ và cơ chế truyền dẫn trong điều kiện nền kinh tế mở hội nhập quốc tế.
- Ứng dụng mô hình IS - LM - BP và lý thuyết Tam giác bộ ba bất khả thi để luận giải chi tiết tác động của CSTT và CSTK dưới các chế độ tỷ giá và mức độ chu chuyển vốn khác nhau, làm rõ vai trò của các biện pháp can thiệp trung hòa khi nền kinh tế tiếp nhận dòng vốn ngoại lớn.
-
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên phân tích một cách hệ thống thực trạng điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong suốt tiến trình hội nhập quốc tế từ năm 1997 đến 2012–2013.
- Đánh giá chi tiết diễn biến kinh tế - tiền tệ của Lào qua 4 giai đoạn lịch sử rõ rệt, nhận diện các đặc thù cấu trúc: nền kinh tế quy mô nhỏ chịu ảnh hưởng của "Căn bệnh Hà Lan", tỷ lệ đô la hóa cao, sự lấn át của CSTK và mức độ phát triển chưa đồng đều của hệ thống NHTM.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp và các khuyến nghị chính sách có tính thực tiễn cao nhằm đổi mới công tác điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong giai đoạn hướng tới năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án sử dụng chuỗi số liệu thực nghiệm đến giai đoạn 2012–2013 (thời điểm Lào vừa gia nhập WTO). Do hạn chế về mức độ sẵn có và tính đồng bộ của hệ thống dữ liệu thống kê tại Lào trong giai đoạn nghiên cứu, việc ứng dụng các mô hình kinh tế lượng phức tạp (như VAR, SVAR, VECM) vào phân tích định lượng chuyên sâu cho từng kênh truyền tải chính sách tiền tệ còn chưa thực hiện được ở mức tối đa.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu sau khi Lào gia nhập WTO đầy đủ; áp dụng các mô hình chuỗi thời gian đa biến (SVAR, VECM) để lượng hóa chính xác độ trễ và mức độ phản ứng của sản lượng, giá cả trước các cú sốc CSTT trong giai đoạn thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế đến 2020 và các năm tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế: Nguồn tư liệu chuyên sâu về kinh tế vĩ mô và hệ thống ngân hàng của CHDCND Lào trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập; tham khảo khung lý thuyết mô hình IS-LM-BP trong Chương 2.
- Giảng viên các trường đại học và viện nghiên cứu: Tài liệu giảng dạy, nghiên cứu so sánh về điều hành chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á.
- Cán bộ hoạch định chính sách tại Ngân hàng nước CHDCND Lào, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý vĩ mô: Cơ sở thực tiễn để tham khảo các giải pháp phát triển nghiệp vụ thị trường mở, cơ chế can thiệp trung hòa ngoại hối, chính sách kiểm soát đô la hóa và tái cơ cấu thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của CHDCND Lào thành những giai đoạn nào?
Luận án phân chia thực trạng thành 4 giai đoạn cụ thể:
- Giai đoạn 1 (1997 – Quý 2/2002): Giai đoạn ứng phó khủng hoảng tài chính châu Á 1997, kiềm chế lạm phát phi mã và bắt đầu đưa vào áp dụng dự trữ bắt buộc, thị trường mở (1999).
- Giai đoạn 2 (Quý 3/2002 – 2005): Giai đoạn phục hồi kinh tế, thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 5 và đẩy mạnh cắt giảm thuế theo CEPT/AFTA.
- Giai đoạn 3 (2006 – 2010): Giai đoạn dòng vốn FDI vào ngành khai khoáng, thủy điện tăng nhanh, đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và thâm hụt cán cân vãng lai.
- Giai đoạn 4 (2011 – 2012/2013): Giai đoạn chuẩn bị và chính thức gia nhập WTO (1/2013), thắt chặt tiền tệ và tăng cường phát hành tín phiếu để ổn định vĩ mô.
2. Mức độ đô la hóa tại CHDCND Lào được ghi nhận như thế nào trong luận án?
Tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (M2) của Lào từng ở mức rất cao, từ 60–70% trong giai đoạn sau khủng hoảng 1997. Nhờ các biện pháp điều hành, tỷ lệ này đã giảm dần xuống 45% vào năm 2011 và đạt 42,5% vào năm 2012. Tuy nhiên, mức này vẫn còn cao khi so sánh với Việt Nam (khoảng 11–12% giai đoạn 2011–2013), tiếp tục là một rào cản lớn đối với hiệu lực của chính sách tiền tệ quốc gia.
3. Hiện tượng "Căn bệnh Hà Lan" (Dutch disease) tác động như thế nào đến nền kinh tế Lào theo phân tích trong luận án?
Luận án dẫn chứng nghiên cứu của Milan và Ekaterina (2010) chỉ ra rằng nguồn thu ngoại tệ dồi dào từ xuất khẩu tài nguyên tự nhiên (khoáng sản, thủy điện) có xu hướng được sử dụng để nhập khẩu hàng tiêu dùng thay vì tư liệu sản xuất, làm thâm hụt cán cân thương mại, đẩy tỷ giá thực của đồng Kip lên cao, làm giảm sức cạnh tranh của các ngành sản xuất khác và làm lệch lạc phân bổ nguồn lực xã hội.
4. Những rủi ro thanh khoản chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại Lào được chỉ ra là gì?
Rủi ro thanh khoản được thể hiện qua tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của hệ thống NHTM tăng mạnh từ 55% năm 2008 lên 75% năm 2010 và đạt mức 81,4% vào năm 2011. Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động vốn, cộng với chất lượng thẩm định tín dụng hạn chế và nợ quá hạn tập trung ở các ngân hàng nội địa tạo nên áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Hoàn thiện khuôn khổ mục tiêu CSTT lấy ổn định vĩ mô làm trung tâm; (2) Chuyển đổi mạnh mẽ sang sử dụng các công cụ gián tiếp (phát triển nghiệp vụ thị trường mở, linh hoạt dự trữ bắt buộc và tái chiết khấu); (3) Áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết và triển khai đồng bộ các giải pháp chống đô la hóa; (4) Nâng cao tính độc lập và năng lực dự báo của Ngân hàng Trung ương; (5) Tái cơ cấu, lành mạnh hóa tài chính và tăng cường giám sát an toàn hệ thống NHTM.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Santy Phonmeuanglao là một công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế từ sau năm 1997 đến 2013. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết kinh tế vĩ mô mở (mô hình IS - LM - BP, bộ ba bất khả thi) với phân tích dữ liệu thực nghiệm qua 4 giai đoạn phát triển, luận án đã làm rõ những thành tựu kiểm soát lạm phát, các rào cản cấu trúc như tình trạng đô la hóa, rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng và hiện tượng "Căn bệnh Hà Lan". Hệ thống 5 nhóm giải pháp và các khuyến nghị chính sách được luận án xây dựng có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở quan trọng cho tiến trình đổi mới điều hành chính sách tiền tệ của CHDCND Lào hướng đến mục tiêu phát triển bền vững năm 2020.