Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO Các nghiên cứu riêng rẽ về điều hành CSTT và hội nhập kinh tế quốc tế tại Lào không nhiều, đặc biệt nghiên cứu về công tác điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập vào kinh tế quốc tế gần như chưa được các tác giả trong và ngoài nước tiếp cận. Có thể trình bày một số nghiên cứu cơ bản liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu của luận án như sau: Khamkinh Phanthavong (2003), Đổi mới hệ thống ngân hàng nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong nền kinh tế thị trường [10]. Luận án đã phân tích, hệ thống lý luận về ngân hàng từ quá trình ra đời và phát triển, vai trò của hệ thống ngân hàng với nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường.
Kinh nghiệm của các quốc gia trong quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng đã được tác giả tổng hợp và phân tích nhằm vận dụng vào quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng của CHDCND Lào. Trên cơ sở đánh giá năng lực tổ chức bộ máy của Ngân hàng nước CHDCND Lào, tác giả đã chỉ ra những hạn chế căn bản như thẩm quyền trong hoạch định CSTT quốc gia ở mức thấp, thiếu hệ thống pháp luật, quy định, quy chế để quản lý, chưa có chính sách phát triển ngân hàng phù hợp, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu vào nghiên cứu công tác điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào một cách toàn diện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một phần là do trong phạm vi khoảng thời gian nghiên cứu, nền kinh tế Lào chưa hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới. Mi Moua (2003), Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại CHDCND Lào [15], đã phân tích thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng và những tồn tại cần phải giải quyết.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và khu vực, tác giả đã rút ra bài học về tín dụng ngân hàng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Lào. 6 Luận án đã phân tích về thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng tại Lào gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để chỉ ra những thành công và tồn tại. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất kiến nghị tập trung đổi mới hệ thống thanh tra giám sát, đổi mới chính sách cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt, cần tách tín dụng thương mại ra khỏi tín dụng chính sách để bảo đảm chất lượng các khoản tín dụng và tạo điều kiện điều chỉnh cơ cấu lại tín dụng. Watanabe Shinichi (2006), Đô la hoá, kiều hối và chính sách tiền tệ tại Campuchia, CHDCND Lào và Việt Nam [77], đã mô tả tình trạng đô la hoá tại ba quốc gia láng giềng này và ảnh hưởng của nó tới hoạt động của hệ thống ngân hàng và điều hành CSTT.
Nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2004, tác giả chỉ ra hai quốc gia Campuchia và CHDCND Lào có mức độ đô la hoá cao khi tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán lên tới 60-70%. Đây được cho là hệ quả của cuộc khủng hoảng tài khoá sau khi CHDCND Lào thực hiện các biện pháp tài khoá và tiền tệ mở rộng để giảm nhẹ tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997, dẫn tới tình trạng lạm phát cao, lòng tin vào nội tệ suy giảm và đồng nội tệ bị mất giá mạnh. Hệ luỵ của tình trạng đô la hoá phổ biến khiến cho NHTW của các quốc gia này không thể kiểm soát được lượng cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế hơn nữa, đồng thời mức độ độc lập trong điều hành chính sách lãi suất của NHTW cũng bị giảm xuống do mức lãi suất ngoại tệ trong nước phụ thuộc vào lãi suất ở nước ngoài. Hiệu quả của CSTT vì thế mà bị giảm đi đáng kể.
Mặc dù tình trạng đô la hoá đã giảm xuống trong giai đoạn gần đây, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán giảm còn 42,5% vào năm 2012 nhưng vẫn ở mức cao so với Việt Nam, ở mức 11-12%. Điều này là vì Ngân hàng nước CHDCND Lào chưa triển khai quyết liệt các giải pháp phù hợp và đồng bộ như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng triển khai trong giai đoạn năm 2011 - 2013. Patricia và Alicia (2008), Đô la hoá và chống đô la hoá: hệ quả đối với chính sách tiền tệ [70]. Nghiên cứu này đã làm rõ khái niệm đô la hoá, xu hướng đô la hoá hiện nay tại các quốc gia ở Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Isarel và Nga và phân chia các quốc gia thành từng nhóm có tình trạng đô la hoá cao, trung bình, và thấp.
Theo đó, Lào và Campuchia được xếp vào nhóm các quốc gia có tình 7 trạng đô la hoá cao. Phouphet Kyophilavong (2009), Đánh giá chính sách vĩ mô của Lào [22], cho thấy Chính phủ CHDCND Lào đã theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hơn là mục tiêu ổn định vĩ mô nhằm nhanh chóng thoát khỏi nhóm các quốc gia kém phát triển vào năm 2020. CSTT của Lào được điều hành bởi Ngân hàng nước CHDCND Lào thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp lẫn gián tiếp nhưng không có các mục tiêu và kênh truyền dẫn rõ ràng. Cụ thể, Ngân hàng nước CHDCND Lào chủ yếu dựa vào các công cụ trực tiếp, bao gồm kiểm soát lãi suất huy động và cho vay, trần tăng trưởng tín dụng trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước.
Chỉ tới năm 1999, nghiệp vụ thị trường mở và dự trữ bắt buộc mới được đưa vào áp dụng. Ngân hàng nước CHDCND Lào đã điều hành CSTT với lượng tăng cung tiền hàng năm là mục tiêu trung gian của CSTT được xác định thông qua đẳng thức số lượng tiền tệ. Các mục tiêu hoạt động bao gồm lượng tiền dự trữ và lãi suất ngắn hạn của các ngân hàng thương mại. Công tác điều hành CSTT tại Lào có những khó khăn nhất định xuất phát từ các thực trạng như Lào là một quốc gia có tình trạng đô la hoá cao, thời gian ban hành chậm trễ và mức độ minh bạch trong quá trình xây dựng và thực hiện CSTT không hiệu quả, hệ thống tài chính kém phát triển khiến cho quá trình thông tin và truyền dẫn CSTT bị giảm hiệu quả, mức độ phát triển các công cụ điều hành và thị trường tiền tệ liên ngân hàng khá hạn chế.
Thông qua nghiên cứu định lượng, tác giả đã chỉ ra giảm tỷ giá và mở rộng cung tiền không hề mang lại tăng trưởng kinh tế cho Lào, mà trái lại có ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng kinh tế và chính sách ổn định kinh tế tốt hơn là chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Milan và Ekaterina (2010), Phát triển của Lào thông qua việc mở rộng nhanh chóng khu vực tài nguyên tự nhiên: Những thử thách và lựa chọn chính sách cho CHDCND Lào [17]. Nghiên cứu cho thấy khu vực khai thác và xuất khẩu tài nguyên đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Lào. Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào khu vực này trong thời gian dài nhưng lại thiếu chiến lược phát triển bền vững trong dài hạn đã đặt ra những thách thức cho nền kinh tế Lào.
Cụ thể, thu nhập dồi dào từ việc xuất khẩu tài nguyên đang có xu hướng được sử dụng cho việc nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng thay vì được sử dụng để nhập khẩu 8 thiết bị, máy móc. Thực trạng "Căn bệnh Hà Lan - Dutch disease" này dẫn tới thâm hụt cán cân thương mại và các hệ luỵ khác như quá trình phân phối lao động và nguồn lực sang các khu vực kém hiệu quả hơn, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Ngoài ra, đồng Kip bị định giá thực cao cũng trở thành một trở ngại đối với tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh nền kinh tế Lào ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực, thực trạng này đặt ra những thách thức cho điều hành chính sách vĩ mô như tạo sự nhất quán trong điều hành các chính sách ngoại thương, tỷ giá, tiền tệ, và tài khoá nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô phải được coi là ưu tiên hàng đầu.
Phouphet Khamphounvong (2010), Giải pháp đổi mới hoạt động Ngân hàng Trung ương Lào trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế [23], đã hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới về hoạt động của NHTW trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả đã chỉ ra Ngân hàng nước CHDCND Lào chưa có một khuôn khổ điều hành CSTT rõ ràng và ổn định với các mục tiêu của CSTT rõ ràng, chưa thiết lập được cơ chế truyền dẫn tác động của CSTT tới các mục tiêu, chưa tính đến độ trễ và tác động kỳ vọng của các quyết định điều hành, các công cụ CSTT còn đơn giản, chưa được hoàn thiện, chưa xác định rõ mục tiêu của nghiệp vụ thị trường mở là điều tiết lãi suất thị trường liên ngân hàng hay vốn khả dụng trong từng thời kỳ… Cơ chế điều hành tỷ giá cũng được phân tích là chưa phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế do đồng Kip Lào không được định giá một cách hợp lý trong cơ chế tỷ giá thiếu tính thị trường. Tác giả đã đưa ra những giải pháp đổi mới nhằm nâng cao được vị thế, tầm vóc và năng lực hoạt động của Ngân hàng nước CHDCND Lào như nâng cao vị thế và tính độc lập tương đối của Ngân hàng nước CHDCND Lào, Ngân hàng nước CHDCND hoạt động hướng tới khuôn khổ thông lệ và chuẩn mực quốc tế, xây dựng môi trường pháp luật và khuôn khổ thể chế hoàn chỉnh và đồng bộ, quản lý và giám sát hiệu quả hệ thống ngân hàng. Một nghiên cứu khác về kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách và tình hình thương mại quốc tế của Lào cũng bàn đến hoạt động điều hành CSTT của CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.