Chương 1: Một số van dé lý luận vẻ đại diện lao đông và pháp luật vẻ đại điện lao động Chương 2: Tiên chuẩn của Hiếp đính Đổi tác toàn điện va tiến bô xuyên Thái Bình Dương về đại điện lao đông va đánh giá su tương thích với pháp luật Việt Nam. Chương 3- Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại điện lao động ở Việt Nam. ir CHUONG 1: MOT SỐ VAN DE LY LUẬN VE ĐẠI DIỆN LAO DONG VAPHÁP LUAT VE ĐẠI DIEN LAO DONG. Dai diện lao động, LLL hái niệm về đại điện lao động Sự ra đời của đại diện lao động là sản phẩm của mâu thuẫn kinh tế trong xã hội hiện đại.
Nghiên cứu khái niêm đại diện lao đông cẩn đất nó trong mới liên hệ mật thiết với việc nghiên cứu quan hệ kinh tế - xã hội ma quan hệ lao đông la biểu hiện cụ thể va ban chất của quan hệ kinh tế - xã hội. Quan hệ lao động cũng như nhiều quan hệ kinh tế khác trong thi trưởng, các chủ thể tham gia quan hệ không ngoài mục đích nhằm mưu cầu lợi ich cho minh (trong đó lợi ích vật chất là quan trong nhất), Tuy nhiên, do những tương quan khác nhau trong quan h lao động ma người lao động với tư cách cá nhân thường bị bat lợi trong mối quan hệ kinh tế với người sử dụng lao động, Vì vậy, một cách tự nhiên người lao động liên kết lại với nhau để 0 nên sức manh của số đông trong việc bao vệ quyển lợi của mình. Sự liên kết, tập hợp của người lao đồng trong tổ chức là có tinh tự nhiên va khách quan của quan hệ lao động trong thi trường Tir phương diện lich sử của van dé đại diện lao động ở những nước có nến kinh tế thi trường truyền thông cũng như thực tế thực hiện ở những nước có mô hình kinh tế thị trường chuyển đổi, khi nghiên cứu về đại điện lao động. cân chú ý một số nôi dung sau đây.
Thứ nhất, sự ra đồi của tễ chức đại diện lao động là nhu cầu có tính tự thôn va tất yêu trong quan hệ lao đông kể từ khi sức lao động được coi là hang ‘hoa va người lao động với tư cách là người tự do đem nó ra trao đổi, mua ban trên thị trường, Từ thực tiễn các cuộc đầu tranh giai cấp, giai cấp công nhân vva các ting lớp lao động đã nhân thức rằng: muốn bão vệ lợi ich cla mình thi họ phải tự nguyện liên kết với nhau để lập ra một tổ chức của giai cấp mình, tạo thành sức mạnh to lớn hơn để đầu tranh đạt hiệu quả cao. Tổ chức đó dau tiên gọi là nghiệp đoán, có chức năng thay mặt cho tập thé lao đông đầu tranh. với giới chủ để đòi tăng lương, giảm giờ làm. Nghiệp đoản được td chức theo ngành nghề (như.
Liên đoàn thơ mö, Liên đoàn thợ in.) và đính ra những nguyên tắc hoạt động vì mục đích chung Vi vay, nó không phải la kết qua tử ý chi của Nha nước hay mong muốn chủ quan của bất cứ ai. Tuy nhiên, thực tế cho thay pháp luật với vai trò, chức năng của mình khi điều chỉnh quan hệ nảy có thể thúc day những xu hướng tích cực, tạo sự hải hòa trong quan hệ lao động, song cũng có thể làm hạn chế mất tích cực của tô chức đại điện lao động Tint hai, t chức đại diện tập thể lao động về bản chất 1a tổ chức tự nguyện, việc tham gia tổ chức đại diện (công đoản, nghiệp đoản.) hay không do người lao động tư quyết định Đương nhiên người lao động chỉ lựa chọn tổ chức đại điên lao đông có khả năng bảo vệ mình một cách hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, sự tự nguyên nảy chi có ý ngiấa khi người lao động cỏ cơ hồi để lựa chọn. Vi thé, tên tại nhiều tổ chức đại điện dường như là điều kiện thiết yên cho quyên tư do lập hội va tự do lựa chọn tổ chức đại diện của người lao đông được hiện thực hóa.
Thứ ba, với tư cách là người đại điện để bão vệ người lao động, tổ chức. đại điện lao đồng la đổi tác trong quan hệ với Nhà nước và người sử dụng lao động, Vì vậy, để thực hiện hữu hiệu vai trò của minh, tổ chức đại diện lao. đông phải có sự độc lập với Nha nước và người sử dung lao động mà trong đó quan trong nhất là sự độc lập vẻ mắt tô chức va kinh tế. Sự lệ thuộc về nất tài chính và tổ chức rất dé dn dén sự suy yếu hoặc biển dạng cia vai trò đại điện tập thé lao động trong méi quan hệ với các chủ thể liên quan.
Thứ he trong mô bình nên kinh tế chuyển đổi, ma ở đó trong thời gian dai của nên kinh tế bao cấp méi quan hệ cia đại diện lao động với nba nước (cũng là người sử dụng lao động chủ yếu) gắn bó mất thiết với nhau, bai sự chi phối của quan niệm mọi lợi ích trong sã hội là thống nhất. Khi thửa nhận l3 và phát triển nên kinh tế thị trường, bên canh kh vực kính tế nhà nước còn có sự tốn tai các thành phân kinh tế khác và quan niệm vé lợi ích đã có su thay đổi căn bản thì van để dai diện lao động cũng được tiếp cân với những nội dung mới cả về chất là lượng. Tuy nhiền, cũng như bất cứ lĩnh vực nảo khi chuyển từ nên kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, van để đại diện lao động cũng không tránh khỏi sự chuyển đổi với giai đoạn quá độ nhất định. Song các quy định của pháp luật cũng cén hướng tới việc bao dam rằng qua trình chuyển đổi van dé đại diện lao động một cách thực chất hơn sé được thực hiện củng với sự vận đông và phát triển của nên kinh tế.
Trong cuồn Từ điển tiếng việt, đại diện có nghĩa là sự thay mặt cho ca nhân hoặc cho tap thé làm việc gì đó. Trong cudn Từ điển luật học”, đại điện. được định nghĩa rổ hơn, là một người hoặc cơ quan hay mặt cho mốt người 'hoặc một tổ chức với những nhiệm vụ, quyền hạn cu thé để lam những việc vì lợi ích của người, của tổ chức đã cit ho lâm đại diện. Như vậy, với những cách giải thích này thi đai diện lao đông được hiểu là sự thay mất cho người lao động hoặc tập thể người lao động trong việc bảo vệ quyển lợi của người lao động Dưới góc độ kinh tế, đại điện lao động được hiểu là tổ chức hoặc cá nhân thay mặt cho người lao đồng thông qua việc liên kết để cùng hành động nhằm cãi thiện điều kiện về kinh tế.
Dưới góc đô xã hội, đại điện lao động được hiểu lả một tổ chức xã hội do người lao đông tự nguyên lập ra thay mặt người lao đông tham gia vao quan hệ lao đông. Dưới góc đô pháp ly, đại diện lao động là một chế định trong đó chủ. thể (tổ chức hoặc cá nhân) được Nha nước trao cho quyển năng pháp lý nhất định thay mất cho người lao đông để thực hiện chức năng đại điện và bảo vệ quyển, lợi ích hợp pháp của người lao động. "tuning Đặt hạc Lait Hi Nội G013), Giáo nh Lute Tao đông Việt Mins Công nhấn dẫn, Hà Nột, th * Vin Ngôn ngthọc G009), ain nồng Fit, Nib BA Nẵhg Tang tìm từ đẳnhọc, Đi Nẵngv 279 I deride, 36 Neda bichon, 1099, 142 4 Theo Điểu 3 Công tước số 135 của ILO vẻ việc bảo vệ dai diễn người Jao đồng trong doanh nghiệp và những thuận lợi dành cho ho, có quy định: “Dat diện lao động là chỉ những người được pháp luật hay tục tin uc gia công nhâm, bao gỗm: a) Các đại diện công đoàn, cu thé là các đại diện được các công đoàn hoặc các đoần viên của các công đoàn chỉ ãịmh hoặc bầu ra: Ð) hoặc các dat diễn được bau ra, cụ thé là các đại điên được những người lao động trong doanh nghiệp tư do bầu ra theo ding quy ãmh của pháp luật quốc gia hoặc của các théa ước, mà trong những nước hit quan các chức riềng của công đoàn” Theo đó, tỗ chức đại diện cho người lao động phải được thảnh lập một cách hợp pháp, ban lãnh đạo do tập thể người lao đông ‘bau ra dựa trên ý chi tự nguyện của ho.
Moi quyết định mang tính hành chính để phân công hoặc chỉ định nên tổ chức đại điện nảy ma không thông qua bau cử hoặc ủy quyên một cách tự nguyện của các thành viên déu không thể hình thành nên tổ chức đại điện lao đông thực chất cho quan hé lao động, Mục đích cuối củng cho việc hình thảnh nên tổ chức này là nhằm bảo vệ quyển lợi cho người lao đông. 'Ở Việt Nam, trong các văn ban của Dang từ rat sớm cũng đã dé cập đến vấn để nảy, “Công hội ià một cái 16 chức tat cả của thợ thuyền trong sản nghiệp ”" Mục dich của Công hội ð Việt Nam: “Trước la đễ cho công nhân a lại với nhan cho cô tinh cảm; hai là a8 nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho kia hơn hiện tại; bỗn là dé giữ gin quyén lợi cho côngnhân; năm là đỗ ghip cho quốc dân, giúp cho thé giới ”® Vain để đại diện lao đông đã được pháp luật Việt Nam quy định ngay khi Nha nước thừa nhân và định hướng phát triển nên kinh tế thị trường, Tại khoản 2 Điễu 2 Quy chế lao động đối với các zi nghiệp có vẫn đâu tư nước ngoài ban hảnh kèm theo Nghi định cia Hội đồng Bộ trưỡng (nay là Chính phi) số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 đã quy định. “Đại điên lao động là chai "Động Công sin Vit Num 1998), 7 én Beng tol dp (ep 2) Nab Chis gi gi, HA NGL "HG Chibi tein tip (2000), Nob. Chih a quae ga, Ha Nội g 32 15 tịch hoặc người được ty quyền của Ban chấp hành công đoàn thuộc hệ thông Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: hoặc là người được đại điện tap thé iao đông trong xi nghiệp cit ra thay méit ho, Kh trong xi nghiệp chưa có tổ chức công đoàn ‘Van dé đại điện lao động con được quy định trong Ban quy định về théa ước lao động tập thể (ban hành kèm theo Nghị định số 18/CP ngày 26/12/1992 của Chỉnh ph), theo đó: “Ban đại điên lao động có it nhất 3 người, do tập thé lao động trong doanh nghiệp bằu ra và được cơ quan lao đồng cấp tinh xác nhận”.