CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1. Khái quát về hợp đồng lao động 1. Khái niệm hợp đồng lao động Hợp đồng lao động là văn bản thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, trong đó 3 quy định điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, để sử dựng lao động, người sử dụng lao động có thể lựa chọn các cách thức khác nhau.
Người sử dụng lao động có thể sử dụng lao động thông qua phương thức tuyển dụng lao động trực tiếp hoặc thuê lại lao động của doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, trong hai phương thức này, phương thức tuyển dụng lao động trực tiếp bao giờ cũng là phương thức tuyển dụng cơ bản được người sử dụng lao động sử dụng chủ yếu bởi phương này giúp cho doanh nghiệp có được lực lượng lao động ổn định và bền vững. Hơn nữa, việc thuê lại lao động của doanh nghiệp khác chỉ được áp dụng trong những trường hợp pháp luật cho phép với những điều kiện hết sức chặt chẽ nên không phải lúc nào người sử dụng lao động cũng có thể áp dụng được phương thức này. Để có thể tuyển dụng trực tiếp lao động vào làm việc, giữa người sử dụng lao động và người lao động cần phải có cam kết, thoả thuận về mặt pháp lí để chính thức xác lập mối quan hệ giữa các bên, thiết lập quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa các bên.
Hình thức pháp lí đó chính là hợp đồng lao động. Hợp đồng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu:“là sự thoả thuận giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản”. Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 385 có quy định:“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. 2 Như vậy, về bản chất, hợp đồng phải là sự thoả thuận, giao ước giữa các bên và nội dung của nó phải là những quy định về các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia (về từng lĩnh vực cụ thể).
Hợp đồng lao động cũng là một loại hợp đồng, vì vậy nó cũng phải mang bản chất của hợp đồng nói chung đó là tính khế ước, được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên. Song khác với hợp đồng dân sự hay họp đồng thương mại, sự thoả thuận này phải là sự thoả thuận giữa các chủ thể của quan hệ lao động và nội dung của nó phải liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động như vấn đề về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, bảo hiểm xã hội. Đặc điểm hợp đồng lao động Hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lý của Người lao động với Người sử dụng lao động. Đây là đặc trưng được coi là tiêu biểu nhất của hợp đồng lao động mà các hệ thống pháp luật khác nhau nên thừa nhận.
Khi tham gia quan hệ hợp đồng lao động, mỗi người lao động thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hóa, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động. Vì vậy, cần thiết phải có sự thống nhất, liên kết, điều phối bằng các yêu cầu, đòi hỏi, rằng buộc, mệnh lệnh… của chủ sở hữu doanh nghiệp. Đối tuợng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công. Mặc dù hợp đồng lao động là một loại quan hệ mua bán đặc biệt.
Một trong những khía cạnh đặc biệt của quan hệ này thể hiện ở chỗ hàng hóa mang trao đổi – sức lao động, luôn tồn tại gắn liền với cơ thể người lao động. Do đó, khi người sử dụng lao động mua hàng hóa sức lao động thì cái mà họ được “sở hữu” đó là một quá trình lao động biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ý thức… của người lao động và để thực hiện được những yêu cầu nói trên, người lao động phải cung ứng sức lao động từ thể lực và trí lực của chính mình biểu thị qua những thời gian đã được xác định 3 (ngày làm việc, tuần làm việc…). Như vậy, lao động được mua bán trên thị trường không phải là lao động trừu tượng mà là lao động cụ thể, lao động thể hiện thành việc làm. Hợp đồng lao động do đích danh người lao động thực hiện.
Đặc trưng này xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng lao động. Hợp đồng lao động thường được thực hiện trong môi trường xã hội hóa, có tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa rất cao, vì vậy, khi người sử dụng lao động thuê mướn người lao động người ta không chỉ quan tâm tới đạo đức, ý thức, phẩm chất… tức nhân thân của người lao động. Do đó, người lao động phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được chuyển dịch vụ cho người thứ ba. Trong hợp đồng lao động có sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bới những giới hạn pháp lý nhất định.
Đặc trưng này của hợp đồng lao động xuất phát từ nhu cầu cần bảo vệ, duy trì và phát triển sức lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường không chỉ với tư cách là các quyền cơ bản của công dân mà còn có ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Mặt khác, hợp đồng lao động có quan hệ tới nhân cách của người sử lao động, do đó quá trình thỏa thuận, thực hiện hợp đồng lao động không thể tách rời với việc bảo vệ và tôn trọng của nhân cách người lao động. Hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô thời hạn. Thời hạn của hợp đồng có thể được xác định rõ từ ngày có hiệu lực tới một thời điểm nào đó, xem cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc.
Ở đây, các bên – đặc biệt là người lao động không có quyền lựa chọn hay làm việc theo ý chí chủ quan của mình mà công việc phải được thi hành tuần tự theo thời gian đã được người sử dụng lao động xác định (ngày làm việc, tuần làm việc). Sự cần thiết phải giao kết hợp đồng lao động trong quan hệ lao động Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 thì hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Hợp đồng lao động là những thỏa thuận về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động; là căn cứ chứng minh mối quan hệ lao động của người lao động và là cơ sở pháp lý để giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra trong quá trình làm việc. Người lao động và người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính người lao động, người sử dụng lao động cũng như để nhà nước quản lý các quan hệ lao động trên phạm vi cả nước.
Thực hiện đúng hợp đồng lao động là một sự đảm bảo đối với người lao động và người sử dụng lao động: Người lao động có thể đảm bảo người sử dụng lao động sẽ thực hiện các nghĩa vụ (trả lương, số giờ lao động.) đúng như hợp đồng Người sử dụng lao động cũng có thể yên tâm về những nghĩa vụ mà người lao động phải thực hiện theo hợp đồng lao động (thời gian, công việc,.) Nếu một trong hai bên thực hiện không đúng với hợp đồng lao động thì bên còn lại có thể sử dụng hợp đồng lao động để làm căn cứ pháp lý cho việc khởi kiện của mình. Từ đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân. Đối với Nhà nước: + Hợp đồng lao động giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý được lực lượng lao động trong biên chế và ngoài biên chế. Đó là cơ sở pháp lý để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện của các chủ sử dụng lao động.
5 + Do có tính pháp lý chặt chẽ trong hợp đồng lao đồng nên việc chi trả lương hàng tháng cho người lao động thường duy trì ổn định góp phần ổn định kinh tế đất nước. + Vì mỗi gia đình là một “tế bào” của xã hội nên khi người lao động có kinh tế (thu nhập) ổn định thì xã hội tất yếu sẽ được duy trì, khi đó an ninh chính trị được giữ vững và các tệ nạn xã hội sẽ hạn chế. + Đồng thời khi người lao động có mức sống cao hơn và họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến vấn đề giáo dục và văn hoá do đó họ sẽ đầu tư nhiều cho sự nghiệp giáo dục khi đó nhận thức của toàn xã hội sẽ được nâng cao và góp phần trực tiếp vào việc duy trì ổn định đời sống xã hội và gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động.
Vì thế, pháp luật lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng lao động 1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động Nguyên tắc tự do, tự nguyện trong giao kết hợp đồng lao động là sự cụ thể hóa nguyên tắc đảm bảo sự tự lựa chọn việc làm, nơi làm việc của công dân. Có nghĩa rằng khi tham gia hợp đồng lao động, các chủ thể hoàn toàn tự do về mặt ý chí trong việc tham gia giao kết về hợp đồng lao động, bất kể hành vi lừa gạt, cưỡng bức đều có thể làm cho hợp đồng bị vô hiệu.
Nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc bình đẳng khẳng định vị trí ngang hàng của người lao động và người sử dụng lao động khi giao kết hợp đồng. Tức là không có sự phân biệt đối xử giữa bên người lao động và người sử dụng lao động.