Luận văn ThS: Pháp luật trợ giúp xã hội và thực tiễn thi hành tại Kim Bôi, Hòa Bình

Nghiên cứu pháp luật về trợ giúp xã hội và thực tiễn thi hành tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Đánh giá các quy định, đưa ra kiến nghị hoàn thiện chính sách

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật trợ giúp xã hội tại Việt Nam

Trợ giúp xã hội là chính sách an sinh cốt lõi của Nhà nước, hướng đến nhóm người yếu thế trong xã hội. Pháp luật trợ giúp xã hội bao gồm hệ thống văn bản quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực hỗ trợ người có hoàn cảnh đặc biệt. Việt Nam hiện có hơn 20% dân số cần trợ giúp xã hội, bao gồm 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gần 5% hộ nghèo. Hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp 2013, Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật và các nghị định, thông tư hướng dẫn. Nghị quyết 15-NQ/TW nhấn mạnh nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng dần mức trợ cấp thường xuyên. Pháp luật quy định rõ về đối tượng, mức hưởng, hình thức hỗ trợ và trách nhiệm của các cấp chính quyền trong triển khai thực hiện.

1.1. Khái niệm và bản chất trợ giúp xã hội

Trợ giúp xã hội là hoạt động hỗ trợ về vật chất, tinh thần và dịch vụ nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vượt qua nguy cơ, tình trạng khó khăn. Bản chất của trợ giúp xã hội mang tính nhân đạo, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người yếu thế. Khác với bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội dựa trên nguyên tắc nhà nước hỗ trợ không có đi có lại, người thụ hưởng không phải đóng góp trước. Phạm vi trợ giúp bao gồm trợ cấp thường xuyên, trợ cấp đột xuất, hỗ trợ dịch vụ chăm sóc và phục hồi chức năng tại cộng đồng.

1.2. Hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội hiện hành

Hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội Việt Nam được xây dựng theo nguyên tắc từ Hiến pháp đến luật, nghị định và thông tư. Hiến pháp 2013 quy định quyền được bảo đảm an sinh xã hội của mọi công dân. Luật Người cao tuổi 2009, Luật Người khuyết tật 2010 và Luật Trẻ em 2016 tạo khung pháp lý cụ thể cho từng nhóm đối tượng. Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chi tiết về trợ cấp xã hội thường xuyên. Thông tư liên tịch hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện chính sách. Hệ thống này đang được hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng và nâng mức hỗ trợ phù hợp khả năng ngân sách.

II. Thực trạng thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội tại Kim Bôi

Huyện Kim Bôi thuộc tỉnh Hòa Bình là địa phương miền núi với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số. Thực tiễn triển khai pháp luật trợ giúp xã hội tại Kim Bôi cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại không ít khó khăn. Số đối tượng thụ hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện khá lớn, tập trung ở nhóm người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Công tác lập danh sách, rà soát đối tượng được thực hiện định kỳ qua hệ thống chính quyền xã, thị trấn. Tuy nhiên, điều kiện địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận chính sách của người dân vùng sâu. Ngân sách địa phương còn hạn chế, mức trợ cấp chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sống tối thiểu. Nhận thức của một bộ phận người dân về quyền lợi và nghĩa vụ trong lĩnh vực trợ giúp xã hội còn chưa đầy đủ, dẫn đến tình trạng thụ động chờ hỗ trợ.

2.1. Đối tượng và phạm vi trợ giúp xã hội tại địa phương

Kim Bôi có nhiều nhóm đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội. Nhóm người cao tuổi neo đơn, không nơi nương tựa chiếm tỷ lệ đáng kể do đặc thù dân cư miền núi. Người khuyết tật tại địa phương chủ yếu là nạn nhân chất độc da cam và người khuyết tật bẩm sinh. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi và trẻ em dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Ngoài ra, huyện còn có đối tượng hộ nghèo, cận nghèo cần hỗ trợ đột xuất do thiên tai, dịch bệnh. Phạm vi trợ giúp bao gồm trợ cấp tiền mặt hàng tháng, hỗ trợ gạo cứu đói, hỗ trợ nhà ở và dịch vụ y tế cơ bản.

2.2. Thách thức và hạn chế trong triển khai thực tế

Thách thức lớn nhất tại Kim Bôi là điều kiện địa hình chia cắt, nhiều xã vùng cao cách trung tâm huyện hàng chục kilomet đường núi. Hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội tại cộng đồng chưa phát triển, thiếu nhà dưỡng lão và trung tâm chăm sóc người khuyết tật đạt chuẩn. Đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội tại xã vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chuyên môn. Nguồn lực tài chính chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động hiệu quả nguồn lực xã hội hóa. Mức trợ cấp hiện hành còn thấp so với mặt bằng giá cả, chưa đủ để đảm bảo cuộc sống cho người thụ hưởng.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội tại Kim Bôi, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng tăng mức trợ cấp phù hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức sống tối thiểu. Nhà nước cần xây dựng tiêu chí xác định mức sống tối thiểu làm căn cứ tính trợ cấp xã hội. Chính quyền địa phương phải tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng thụ hưởng, giảm thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận chính sách. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để xử lý kịp thời các trường hợp khẩn cấp cần trợ giúp đột xuất.

3.1. Định hướng hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp xã hội

Định hướng hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào ba nội dung chính. Thứ nhất, sửa đổi quy định về mức trợ cấp xã hội theo hướng gắn với chỉ số giá tiêu dùng và mức sống tối thiểu, đảm bảo tính thực chất của chính sách. Thứ hai, mở rộng phạm vi đối tượng thụ hưởng, bổ sung nhóm người nhiễm HIV, người nghiện ma túý hoàn thành cai nghiện và nạn nhân bạo lực gia đình vào diện được hưởng trợ cấp thường xuyên. Thứ ba, hoàn thiện quy định về xã hội hóa hoạt động trợ giúp xã hội, tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại địa phương

Giải pháp thực thi tại Kim Bôi cần tập trung vào nâng cao năng lực bộ máy quản lý. Đào tạo chuyên sâu cho cán bộ xã về nghiệp vụ trợ giúp xã hội, phân loại đối tượng và xác định mức hưởng. Xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về đối tượng thụ hưởng, kết nối liên thông giữa các cấp chính quyền. Phát triển mạng lưới cộng tác viên thôn, bản để nắm bắt kịp thời hoàn cảnh khó khăn. Đa dạng hóa hình thức trợ giúp từ tiền mặt sang dịch vụ chăm sóc tại nhà, hỗ trợ giáo dục đào tạo nghề. Huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức từ thiện địa phương thông qua cơ chế khen thưởng minh bạch.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn pháp luật trợ giúp xã hội

Pháp luật trợ giúp xã hội đóng vai trò nền tảng trong việc bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện tính nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn triển khai tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cho thấy chính sách đã phát huy hiệu quả bước đầu, góp phần giảm nghèo và ổn định đời sống người dân. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện vẫn còn đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn lực hạn chế, năng lực thực thi chưa đồng đều và nhận thức của người dân chưa đầy đủ. Thời gian tới, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phải đi đôi với nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Phát triển mô hình trợ giúp xã hội dựa vào cộng đồng là hướng đi phù hợp với điều kiện miền núi. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý đối tượng và chi trả trợ cấp sẽ nâng cao tính minh bạch, giảm tiêu cực. Kết quả nghiên cứu từ Kim Bôi có thể làm kinh nghiệm tham chiếu cho các huyện miền núi khác trong cả nước.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu pháp luật trợ giúp xã hội tại Kim Bôi có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Về mặt lý luận, nghiên cứu làm rõ khung pháp lý điều chỉnh hoạt động trợ giúp xã hội, phân tích mối quan hệ giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về thuận lợi, khó khăn trong triển khai chính sách tại địa phương miền núi. Những số liệu cụ thể về đối tượng thụ hưởng, mức trợ cấp và tỷ lệ tiếp cận chính sách là căn cứ khoan học để đề xuất giải pháp cải thiện. Mô hình phân tích từ Kim Bôi có thể áp dụng cho nghiên cứu tương tự tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

4.2. Khuyến nghị áp dụng cho huyện Kim Bôi và địa phương tương tự

Khuyến nghị đầu tiên là huyện Kim Bôi cần xây dựng kế hoạch trung hạn 5 năm về trợ giúp xã hội, gắn với chương trình giảm nghèo bền vững. Thành lập Ban chỉ đạo trợ giúp xã hội cấp huyện để điều phối liên ngành hiệu quả. Xây dựng thí điểm mô hình trung tâm hỗ trợ cộng đồng đa chức năng tại xã trọng điểm. Đào tạo nguồn nhân lực công tác xã hội chuyên nghiệp, từng bước thay thế đội ngũ kiêm nhiệm. Các huyện miền núi tương tự nên tham khảo cách tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm, phát huy vai trò già làng, trưởng bản trong tuyên truyền chính sách. Cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập để đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách trợ giúp xã hội.

28/05/2026
Lv ths pháp luật về trợ giúp xã hội và thực tiễn thi hành tại huyện kim bôi tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1. Khái niệm trợ giúp xã hội Hiện nay, trong hệ thống pháp luật quốc tế vẫn chưa có một khái niệm chuẩn về TGXH mà chỉ đề cập bằng cách tiếp cận thông qua những quyền cơ bản của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948, khuyến nghị 67 của tổ chức lao động quốc tế ILO năm 1944 về đảm bảo phương tiện sinh sống, khuyến nghị 69 của tổ chức lao động quốc tế ILO năm 1944 về chăm sóc y tế và công ước 102-1952 về quy phạm tối thiểu ASXH. Theo đó TGXH được tiếp cận với các quyền tối thiểu của con người, đó là các quyền về ăn, mặc, ở, về giáo dục, chăm sóc y tế, đảm bảo nhu cầu thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Cho đến nay hầu hết các nước đều thống nhất cho rằng TGXH là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến nhất và được thực hiện bởi nhà nước, cộng đồng nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội khi họ lâm vào tình trạng khó khăn, bất hạnh vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Ở Việt Nam, mặc dù TGXH đã được thực hiện từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về TGXH trong các văn bản pháp luật.

Theo cách hiểu thông thường, cứu trợ là "giúp cho qua khỏi cơn nguy khốn"1 hoặc "giúp cho khỏi cơn nghèo ngặt" 2. TGXH gồm hai nhóm từ ghép là "cứu tế xã hội" và "trợ giúp xã hội". Để hiểu rõ bản chất của TGXH chúng ta bắt đầu đi từ khái niệm "cứu tế xã hội". Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, cụm từ "cứu tế xã hội" được định nghĩa là "sự trợ giúp bằng tiền hoặc hiện vật có tính cấp thiết, "cấp cứu" ở mức độ cần thiết cho những 1.

Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 11 người lâm vào hoàn cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống hàng ngày của bản thân và gia đình" 3. Cứu tế xã hội mang tính tức thời, tính cấp cứu nhằm giúp cho đối tượng tạm thời thoát khỏi tình cảnh hiểm nghèo. Đối tượng của cứu tế xã hội chủ yếu là những người với những nguyên nhân rủi ro, bất hạnh khác nhau dẫn đến cuộc sống bị đe dọa nghiêm trọng, không có sự cứu tế thì bản thân và gia đình có thể bị nguy hại đến cuộc sống, thậm chí có thể dẫn đến cái chết (chết đói, chết rét…).

Hình thức thực hiện cứu tế xã hội rất phong phú và linh hoạt. Cứu tế có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Trên thực tế, cứu tế xã hội thường được áp dụng đối với đối tượng bị thiệt hại do thiên tai, hoặc tai họa bất thường khác, hoặc là những người cần được trợ giúp trong một khoảng thời gian ngắn, giúp họ vượt qua tình trạng khó khăn nguy kịch của cuộc sống. Khác với cứu tế xã hội, TGXH vừa có tính tức thời, vừa có tính lâu dài trong đó tính lâu dài là chủ yếu.

TGXH là "giúp đỡ thêm bằng tiền hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được trợ giúp có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình sớm hòa nhập vào cộng đồng"4. Hay trong một số công trình nghiên cứu, cho rằng TGXH là sự bảo đảm và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các biện pháp và hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế hoặc hụt hẫng trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình"5. TGXH không có tính "tức thời" "cấp cứu" bằng cứu tế xã hội. TGXH thường ổn định lâu dài và có tính đến việc phát huy nội lực của bản thân đối tượng để vươn lên vượt hoàn cảnh, hòa nhập với cộng đồng.

Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Tập 1. Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Tập 1. Mai Ngọc Cường (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội. 12 Như vậy, dựa trên quan điểm của quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, TGXH có thể hiểu: Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói…vì những nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.

Dưới góc độ kinh tế, TGXH là đảm bảo nguồn thu nhập tối thiểu cho cuộc sống của một bộ phận dân cư trong xã hội khi họ bị rơi vào tình trạng khó khăn, bất hạnh, hiểm nghèo…nên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội. Họ không có khả năng tự đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của bản thân và gia đình mà tự mình không thể khắc phục được và cần có sự nâng đỡ về vật chất để vượt qua khó khăn đó. TGXH là hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải, dịch vụ cho các thành viên xã hội gặp bất hạnh, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói. Dưới góc độ xã hội, có thể hiểu TGXH là sự tương trợ cộng đồng có tính xã hội sâu sắc.

TGXH là biện pháp hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và xã hội cho các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn, rủi ro nhằm giảm thiểu những bất ổn xã hội, duy trì ổn định xã hội. Theo đó, những khó khăn bất hạnh của mỗi cá nhân được cả xã hội chia sẻ, gánh vác mà không đòi hỏi một nghĩa vụ trực tiếp nào về tài chính. Ở đây không có sự phân biệt về đối tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện, hơn thế nữa lại là yếu tố tạo nên sự hòa đồng giữa các thành viên trong xã hội. Cũng vì những ý nghĩa xã hội của mình mà TGXH được coi là hình thức tương trợ cộng đồng phổ biến nhất, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của mỗi cá nhân và có sức hút hấp dẫn trước những giá trị nhân bản của con người.

13 Trên thực tế hiện nay, chúng ta bắt gặp các cách sử dụng khác nhau về thuật ngữ "cứu trợ xã hội" hay "bảo trợ xã hội", "trợ giúp xã hội" trong các văn bản pháp luật, tài liệu tham khảo, công trình nghiên cứu….Vậy có sự khác nhau cơ bản nào trong các cách sử dụng thuật ngữ hiện nay? Như trên, tác giả trình bày trong nhiều trường hợp khái niệm TGXH và cứu trợ xã hội được hiểu đồng nghĩa với nhau, còn bảo trợ xã hội theo nghĩa truyền thống là hệ thống cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong cuộc sống ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng như người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt…và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác"6. Dù được sử dụng dưới bất kỳ thuật ngữ nào, chúng ta đều nhận thấy đặc trưng chung của TGXH, bảo trợ xã hội và cứu trợ xã hội là: - Đối tượng được hưởng chế độ, bao gồm mọi người dân không có sự phân biệt khi gặp phải những rủi ro, bất hạnh, khó khăn… trong cuộc sống. - Nghĩa vụ đóng góp không đặt ra như một yêu cầu đối với người được hưởng có tính đến tình trạng kinh tế (thu nhập và tài sản) của họ. - Mức trợ cấp được xác định dựa trên nhu cầu thực sự và thiết yếu của người hưởng.

- Mục đích trợ cấp nhằm duy trì cuộc sống của người thụ hưởng và gia đình họ chứ không nhằm khôi phục lại mức sống của họ như trước khi gặp rủi ro bất hạnh. Chính vì sự tương đồng, không có sự phân biệt đáng kể như trên nên trong thời gian dài chúng ta sử dụng thuật ngữ "cứu trợ xã hội" trong các văn bản pháp luật của Nhà nước như Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09.2000 của chính phủ; Thông tư số 18/2000/TT-BLDDTBXH ngày 28/07/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội… hay các giáo trình "an sinh xã hội" của trường Đại học Luật Hà Nội; giáo trình "cứu trợ xã hội" 6. Trường Đại học Lao động - xã hội (2007), Giáo trình Nhập môn an sinh xã hội, Nxb Lao động- xã hội. 14 của Đại học Lao động - Xã hội.

Với sự ra đời của Nghị định số 67/2007/NĐ- CP ngày 13.2007 của Chính phủ và hiện là Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/201 Quy định chính sách TGXH đối với đối tượng bảo trợ xã hội thuật ngữ "bảo trợ xã hội" lại được sử dụng nhiều. Gần đây, trong các đề tài nghiên cứu khoa học khái niệm "trợ giúp xã hội" cũng được sử dụng phổ biến rộng rãi. Như vậy, theo quan điểm của tác giả sử dụng thuật ngữ "cứu trợ xã hội", "bảo trợ xã hội" hay "trợ giúp xã hội" sẽ không có sự khác nhau về nội dung cấu thành của nó trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay. Khái niệm pháp luật trợ giúp xã hội 1.

Định nghĩa pháp luật trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội là một bộ phận cấu thành của hệ thống ASXH. Hiểu theo một cách đơn giản nhất, TGXH là sự giúp đỡ (trợ giúp) của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói…mà họ không có đủ khả năng tự lo được để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của họ. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, "trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết, "cấp cứu" ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình, là sự giúp thêm bằng tiền mặt hoặc điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình và gia đình, sớm hoà nhập với cộng đồng"7.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ