Chương 1: Một số van dé lý luận về tai nạn lao động, bệnh nghé nghiệp và chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chương 2: Thực trạng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội; Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TAI NAN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHE NGHIEP VA CHE DO TAI NAN LAO DONG, BENH NGHE NGHIEP 1. Một số van đề lý luận về tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1.
Khai niệm tai nạn lao động Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì tình hình về tai nạn trong lao động xảy ra ngày càng nhiều, tinh chất của các vụ tai nạn cũng ngày càng phức tạp và nghiêm trọng, số vụ tai nạn có số người chết ngày càng tăng. Tai nạn lao động có thể hiểu là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, là kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài của các nhân tố nguy hại có thé gây tử vong đột ngột hoặc làm tôn thương hay làm mat khả năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó trên cơ thể. Khi một người bất ngờ bị nhiễm một lượng lớn chất độc có thể gây chết người hoặc phá hủy chức năng hoạt động của một bộ phận bat ky trén co thé (được gọi là nhiễm độc cấp tính), thi cũng được gọi là TNLD. Có thé nói, trước đó khái niệm về TNLD còn mang tính tông quát, chưa phan ánh đầy đủ các yếu tố xác định cụ thê về thế nào thì được coi là TNLĐ.
Vì giai đoạn đầu là giai đoạn rất khó xác định mốc khởi điểm và kết thúc TNLĐ. TNLD không phải chỉ có thé do con người gây ra mà còn có nhiều tác nhân khác. Nó cũng có thể được đóng góp từ động vật như côn trùng cắn hoặc vết chích độc, ngộ độc cấp tính, va chạm giao thông, té ngã và các chuyến đi liên quan đến công việc. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa TNLĐ là sự cô xảy ra bat ngờ, không lường trước được liên quan đên công việc.
Truong hợp công nhân bị thương, bị bệnh hoặc chết được coi là TNLĐ, những vấn đề bạo lực liên quan đến công việc cũng có thê gây ra TNLĐ. Cục Thống kê Lao động và Việc làm, Bộ Lao động của nước Philippine cho rang TNLĐ là một sự cố ngoài ý muốn, bất ngờ có thé hoặc không dan đến thương tích cá nhân, thiệt hại tài sản, ngừng hoặc cản trở công việc, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của những điều kiện này phát sinh từ và trong quá trình làm việc. [41] Cục An toan và Sức khỏe Lao động Malaysia định nghĩa TNLD có thé không chỉ do con người gây ra. Nó cũng có thể được đóng góp từ động vật như côn trùng cắn hoặc vết chích độc, ngộ độc cấp tính, va chạm giao thông, té ngã và các chuyến đi liên quan đến công việc.
[31] Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLD được định nghĩa là tai nạn bat ngờ xảy ra có thé gây ra tử vong hoặc gây ton thương cho cơ thé hay tạo ra một rối loạn chức năng vĩnh viễn hoặc tạm thời do lao động hay trong quá trình lao động. Từ trước, pháp luật Việt Nam có khái nệm về TNLĐ được hiểu như sau: 1. TNLD được hiểu là tai nạn gây tôn thương cho bộ phận, chức năng bất kỳ nào đó của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gan liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Người bị TNLĐ cần phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.
Tat cả các vụ TNLD, BNN và các sự cố nghiêm trọng xảy ra tại nơi làm việc đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của Chính phủ. Căn cứ theo khoản 8 Điều 3 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 có quy định như sau: 10 “8. Tai nan lao động là tai nan gây ton thương cho bat kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong qua trình lao động, gan liên với việc thực hiện công việc, nhiệm vu lao động ”. Quy định này còn áp dụng đối với đối tượng người học nghé, tập nghề và người thử việc.
[2, Khoản 8, Điều 3] Điểm cốt lõi nhất dé phân biệt TNLD và tai nạn rủi ro là phải gắn liền với thực hiện công việc trong quá trình NLD thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định, theo nội quy quy chế của NSDLĐ hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên thông qua thỏa ước lao động tập thể hay hợp đồng lao động. Ngoài các trường hợp trên, những trường hợp khác đều được xem là tai nạn rủi ro va được áp dụng chế độ bảo hiểm ốm dau dé giải quyết quyền lợi cho NLD. Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về TNLĐ Song có thể nhận thấy, mỗi khái niệm trên đều có điểm tương đồng, đó là những tai nạn xảy ra mang tính chất đột ngột mà con người không thê lường trước được và cũng không thể tính toán một cách chính xác về thời gian và không gian; TNLĐ gan với quá trình lao động cua NLD khi thực hiện nhiệm vụ lao động va tai nạn này có thé dé lại hậu quả là chết người hoặc làm ton hại tới sự hoạt động bình thường của một bộ phận nảo đó trên cơ thé NLD. Khái niệm bệnh nghề nghiệp BNN là những rủi ro nghề nghiệp của NLD, là yếu tố đánh giá tình hình an toàn và vệ sinh lao động ở mỗi một đơn vị ngành hay quốc gia, nó cũng là tiêu chí để đánh giá tình hình an toàn và vệ sinh lao động ở một đơn vị, doanh nghiệp.
Theo lý giải của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), một bệnh ma NLD mắc phải do tác động của một yếu tô có hại đặc thủ trong quá trình lao động thì được 11 gọi là BNN. Các yếu tố này xảy ra thường xuyên và liên tục dẫn đến tạo thành sự tích tụ về bệnh tật cho cơ thể con người. Tại Singapore thì khái niệm BNN được hiểu là bệnh nằm trong danh mục Bệnh nghề nghiệp. Bất kỳ bệnh nào không được tìm thấy trong danh sách nhưng do tiếp xúc với các tác nhân hóa học hoặc sinh học tại nơi làm việc cũng được coi là BNN.
[40] Theo quan điểm của Claire Dennis S.d, thứ trưởng Cục thống kê quốc gia và Tổng cục đăng ký dân sự của Philippine thì BNN được định nghĩa là tình trạng hoặc rối loạn bất thường ngoài bệnh do chấn thương nghề nghiệp, do tiếp xúc trong một khoảng thời gian với các yếu tố nguy cơ liên quan đến hoạt động công việc như tiếp xúc với một số hóa chất, hít phải bụi than, thực hiện các động tác lặp đi lặp lại. Điều này đề cập đến một trường hợp mới được công nhận, chân đoán và ghi lại trong năm hít phải bụi than, thực hiện các động tác lặp đi lặp lại. Khoản 9 Điều 3 của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 đã đưa ra khái niệm về BNN như sau: “BNN Id bệnh phát sinh do điêu kiện lao động có hại của nghệ nghiệp tác động doi với NLD”. Bộ Y tê chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành danh mục các loại BNN sau khi tham khảo ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các tổ chức đại điện NSDLĐ.
BNN phát sinh mang tính chất đặc thù của công việc hoặc liên quan đến công việc. Nguyên nhân gây bệnh là do sự ảnh hưởng thường xuyên, liên tục và kéo dai của điều kiện lao động bat lợi, nguy hiểm như nhiệt độ, độ âm, tiếng ồn, độ rung, các bức xạ có hại, các loại độc tố, các loại hơi, khí độc, bụi độc, các chất phóng xạ hay kế cả các loài sinh vật, vi sinh vật, các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, côn trùng. Hoặc thậm chi là do các điều kiện về an toàn, vệ sinh lao động không được đảm bảo: không gian nơi làm việc 12 không đảm bảo vệ sinh, các yếu tố tâm lý, tinh thần. ảnh hưởng trực tiếp đến NLD.
Chính những điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp đó dan dan tác động, phá hủy các bộ phận, chức năng của NLD và gây ra bệnh. Nguyên nhân tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Thứ nhất, về nguyên nhân khách quan dẫn đến TNLĐ, BNN Những rủi ro này thường xảy ra bất ngờ và cướp đi mạng sống của người lao động, chang hạn như cháy, nổ, đắm tàu, máy bay roi, sập ham lò. Điều cần thiết là ban quản lý, chủ sử dụng lao động cần yêu cầu bộ phận cơ sở vật chất kiểm tra, bảo trì, bảo dưỡng máy móc, thiết bị. [10] Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan dẫn đến TNLĐ, BNN Nguyên nhân chủ quan chiếm đa số trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động, lên tới 153%.
Những nguyên nhân này bắt nguồn từ sự coi nhẹ, làm việc qua loa, sơ sài của NLD và NSDLĐ. Vốn có thể khắc phục những nguyên nhân chủ quan này dé không xảy ra những sự việc đáng tiếc. Có thé ké đến như: ° Người lao động không tuân thủ việc đeo khẩu trang, không mặc đồ bảo hộ lao động. e Su dung bat lua thuốc lá hoặc chất dé tạo ra bén lửa trong quá trình làm việc.
° Máy móc không được hoàn chỉnh, thiết bị có sự hư hỏng trong quá trình hoạt động lâu dài mà không được sửa chữa kịp thời, mat đi sự an toàn lao động do làm việc quá tính năng. Hay do không lắp đặt đầy đủ các thiết bị cảnh báo, làm việc trong một môi trường thiếu hụt ánh sang. ° Không thiệt kê rào chăn bao xung quanh nơi làm việc. Ở một sô môi trường lao động sẽ có các khu vực nguy hiêm cho người lao động cũng như người dân xung quanh cân được rào chăn và đặt biên cảnh báo.
13 e Do thiét bi dién gap truc trac, ho dién: do nhiéu yếu tố như môi trường âm thấp, các động vat gặm nhấm dễ khiến đường dây điện bị hở. Điện nhiễm ra khu vực lao động gây nguy hiểm cho con người. ° Do thiếu ánh sáng khiến tầm nhìn bị hạn chế hoặc khiến người lao động mệt mỏi dẫn đến phản xạ chậm chap gây thương ton về thị giác hoặc gây ra các tai nạn lao động khác.