MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngành công nghiệp sản xuất cao su là một trong các ngành công nghiệp có bề dày truyền thống lâu đời. Và trong thời kỳ phát triển nhƣ hiện nay thì ngành công nghiệp cao su đã chiếm cho mình một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách Nhà nƣớc và giúp giải quyết công ăn việc làm cho khá nhiều lao động. Bên cạnh đó thì vấn đề về an toàn vệ sinh lao động cũng là một trong những vấn đề chiếm phần quan trọng trong bất kỳ ngành công nghiệp. Công tác an toàn vệ sinh lao động luôn gắn liền với mọi hoạt động sản xuất, thông qua công tác có thể tính toán trƣớc đƣợc những rủi ro và mối nguy trong dây chuyền sản xuất từ đó đề ra những biện pháp để giảm thiểu các khả năng gây ra những ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khỏe ngƣời lao động.
An toàn lao động, vệ sinh lao động là có liên quan trực tiếp đến đến sức khỏe, tính mạng của ngƣời lao động vì thế các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nên chú trọng và quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên có thể thấy, do đặc điểm sản xuất và yêu cầu của công việc, nhiều ngƣời lao động trong ngành cao su đã không chú trọng đúng mức đến mức ảnh hƣởng của môi trƣờng làm việc với sức khỏe bản thân. Có thể nhận thấy nghề làm cao su cũng có những yếu tố rủi ro dẫn đến các bệnh nghề nghiệp nếu để ảnh hƣởng lâu dài. Trong quá trình làm việc ngƣời làm nghề cạo mủ cao su phải dậy sớm, khi cạo phải nhờ vào ánh sáng đèn điện, mắt phải tập trung cao độ nên khoảng từ 40 tuổi trở đi, sức khỏe của ngƣời làm nghề cao su đã bắt đầu giảm sút rõ rệt.
Bên cạnh đó còn các yếu tố thời tiết nhƣ nắng, gió, bụi trong quá trình làm việc chƣa kể đến việc tiếp xú với hóa chất sẽ ảnh hƣởng trực tiếp tới da. Mặc dù các mối nguy này khá rõ rệt và có khả năng gây ra các bệnh nghề nghiệp nhƣng trên thực tế các cơ sở sản xuất, cạo mũ cao su vẫn chƣa thực hiện quản lý rủi ro an toàn vệ sinh lao động một cách đúng đắn. Đó chính là lý do đề tài ra đời để nghiên cứu các nguyên nhân, xác định thành phần tính chất các rủi ro để làm rõ và đƣa ra những giải pháp giảm thiểu đúng đắn cho nông trƣờng cao su Hội nghĩa Bình Dƣơng.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Khảo sát thực trạng an toàn vệ sinh lao động tại nông trƣờng 1 - Đánh giá mức độ rủi ro bằng phƣơng pháp ma trận thông qua khảo sát tại chỗ - Đề xuất các biện pháp quản lý rủi ro tại nông trƣờng 1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Các rủi ro cho an toàn, sức khỏe ngƣời lao động và môi trƣờng trong quá trình làm việc tại nông trƣờng , các giải pháp quản lý an toàn, sức khỏe và môi trƣờng.2 Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại khu cạo mũ trong vƣờn cao su của nông trƣờn cao su Hội Nghĩa Bình Dƣơng - Về thời gian nghiên cứu: tháng 8 đến tháng 10 năm 2020 1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Kết quả nghiên cứu nhằm xác định các rủi ro trong quá trình làm việc của công nhân tại nông trƣờng. Từ đó đánh giá mức độ rủi ro và đề xuất các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu rủi ro tại nông trƣờng.
Bên cạnh đó cũng chỉ ra những ƣu điểm, khuyết điểm trong kế hoạch quản lý an toàn vệ sinh lao động cho công nhân để góp phần nâng cao hiệu suất làm việc, phát triển bền vững, giúp nông trƣờng ngày càng thành công và lớn mạnh. 2 CHƢƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG 2.1 Các khái niệm về An toàn vệ sinh lao động An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thƣơng tật, tử vong đối với con ngƣời trong quá trình lao động. Vệ sinh lao động là là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con ngƣời trong quá trình lao động. Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trƣờng và văn hoá xung quanh con ngƣời nơi làm việc.
Điều kiện lao động thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lực của ngƣời lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con ngƣời trong quá trình lao động sản xuất. Nhƣ vậy các quá trình lao động khác nhau sẽ tạo nên môi trƣờng lao động rất khác nhau, và do đó mức độ tác động của chúng đến ngƣời lao động cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, cùng một quá trình lao động nhƣ nhau, nhƣng do đƣợc tổ chức hợp lý và tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh môi trƣờng, vệ sinh xây dựng, các tiêu chuẩn tổ chức nơi làm việc, hoặc thực hiện các giải pháp cải thiện. nên những tác động có hại của các yếu tố trên tới sức khoẻ của ngƣời lao động có thể hạn chế đƣợc rất nhiều.
Tình trạng tâm lý sức khoẻ con ngƣời trong khi lao động cũng là một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động.2 Giới thiệu về các mối nguy trong lao động a. Khái niệm: Mối nguy là một nguồn, một tình huống hoặc một hành động có tiềm năng gây ra tổn hại đối với con ngƣời, nhƣ tổn thƣơng hay tác hại sức khoẻ hoặc kết hợp cả hai tổn hại trên b. Phân loại: Mối nguy vật lý : Mối nguy vật lý là các mối nguy liên quan đến các yếu tố kỹ thuật máy móc, điện, bức xạ, nhiệt. - Các bộ phận truyền động, chuyển động: Trục máy, bánh răng, dây đai chuyền và các loại cơ cấu truyền động; sự chuyển động của bản thân máy 3 móc nhƣ: ô tô, máy trục, tàu biển, sà lan, đoàn tàu hỏa, đoàn goũng cú nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt; Tai nạn gây ra có thể làm cho ngƣời lao động bị chấn thƣơng hoặc chết; - Nguồn nhiệt: ở các lò nung vật liệu, kim loại nóng chảy, nấu ăn.
tạo nguy cơ bỏng, nguy cơ cháy nổ; - Nguồn điện: Theo từng mức điện áp và cƣờng độ dòng điện tạo nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trƣờng, cháy do chập điện.; làm tê liệt hệ thống hô hấp, tim mạch. - Vật rơi, đổ, sập: Thƣờng là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững, không ổn định gây ra nhƣ sập lở, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi, đá lăn trong khai thác đá, trong đào đƣờng hầm; đổ tƣờng, đổ cột điện, đổ công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hoá trong sắp xếp kho tàng. - Vật văng bắn: Thƣờng gặp là phoi của các máy gia công nhƣ: máy mài, máy tiện, đục kim loại; gỗ đánh lại ở các máy gia công gỗ; đá văng trong nổ mìn. - Nổ bao gồm các loại: • Nổ vật lý: Trong thực tế sản xuất có thể nổ khi áp suất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực, bình chứa khí nén, khí thiên nhiên lỏng vƣợt quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do thời gian sử dụng lâu.
Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi ngƣời xung quanh. • Nổ hóa học: Là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lƣợng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn phá hủy hoại các công trình, gây tai nạn cho ngƣời trong phạm vi vùng nổ. • Nổ vật liệu nổ (nổ chất nổ): Sinh công rất lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không khí và gây chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định • Nổ của kim loại nóng chảy: Khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị ƣớt, khi thải xỉ. Mối nguy hoá học 4 Là các mối nguy liên quan đến chất nổ, chất lỏng cháy, chất ăn mòn, chất oxy hoá vật liệu, chất độc, chất gây ung thƣ , các loại khí hoá học gây nguy hiểm cho ngƣời lao động • Hóa chất dễ cháy, nổ là những hóa chất có thể hoặc tự phân giải gây cháy, nổ hoặc cùng các chất khác tạo thành hỗn hợp cháy, nổ trong điều kiện nhất định về thành phần, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất.
Phân nhóm và danh mục hóa chất dễ cháy, nổ đƣợc quy định cụ thể tại Phụ lục B, C tiêu chuẩn TCVN 5507:2002 “Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển”. • Trong quá trình hoạt động sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hóa chất nếu không thực hiện nghiêm các quy trình an toàn sẽ dễ xảy ra các sự cố hoá chất. Đó là sự việc bất thƣờng xảy ra liên quan đến hóa chất: cháy, nổ, rò rỉ, phát tán hóa chất gây hại hoặc có nguy cơ gây ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ của ngƣời và thiệt hại về tài sản, gây hại cho động thực vật, môi trƣờng và có thể gây ảnh hƣởng xấu đến an toàn xã hội. Đặc biệt, nhiều loại hóa chất có nguy cơ cháy, nổ rất cao.
• Chất ăn mòn là chất có khả năng phá hủy hoặc làm hỏng các chất khác mà nó tiếp xúc thông qua phản ứng hóa học. Hóa chất ăn mòn phổ biến đƣợc phân loại thành: Axit, bazo, tác nhân dehydrat, tác nhân oxy hoá mạnh, Các halogen điện di: flo nguyên tố, clo, brom, iốt, và các muối điện nhƣ natri hypochlorite hoặc các hợp chất N-chloro nhƣ chloramine-T; các ion halogenua không bị ăn mòn, ngoại trừ florua. Halid hữu cơ và halogenua hữu cơ nhƣ acetyl clorua và benzyl chloroformate, Anhydrid axit, Các tác nhân kiềm hóa nhƣ dimethyl sulfat Một số vật liệu hữu cơ nhƣ phenol ("axit carbolic"). • Chất lỏng cháy là những chất lỏng dễ bắt lửa và cháy, nghĩa là chất lỏng có điểm chớp cháy nhỏ hơn hay bằng 61oC.
Là những chất cháy ở trạng thái lỏng nhƣ xăng, dầu, rƣợu, benzen, chất cháy lỏng bao giờ cũng bốc hơi sau đó mới tham gia phản ứng cháy, cho nên quá trình cháy của các chất lỏng lan nhanh và liên tục.