Phân Lập và Định Danh Colletotrichum spp. Gây Bệnh Than Thư Trên Cây Xoài Tại Đồng Tháp

Khóa luận nghiên cứu phân lập và định danh nấm Colletotrichum spp gây bệnh thán thư trên cây xoài tại Đồng Tháp, góp phần bảo vệ cây trồng.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

72
14
5

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ CÂY XOÀI: NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ CÂY XOÀI

1.2. ĐẶC TÍNH MỘT SỐ GIỐNG XOÀI

1.3. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA XOÀI

1.4. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY XOÀI

1.5. MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN XOÀI

1.6. SƠ LƯỢC VỀ NẤM Colletotrichum spp.

1.6.1. PHÂN LOẠI KHOA HỌC

1.6.2. TẦN SUẤT XUẤT HIỆN VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC LOÀI NẤM Colletotrichum GÂY BỆNH THAN THƯ TRÊN XOÀI VÀ SẦU RIÊNG TẠI ĐBSCL

1.6.3. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI

1.6.3.1. HÌNH THỨC SỐNG DỊ DƯỠNG VÀ BÁN DỊ DƯỠNG
1.6.3.2. ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI
1.6.3.3. NGHIÊN CỨU VỀ NẤM Colletotrichum gloeosporioides
1.6.3.4. PHỨC HỢP LOÀI Colletotrichum

1.6.4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ NẤM Colletotrichum spp.

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM

2.1. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP MẪU BỆNH

2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP PHÂN LẬP NẤM TỪ MẪU BỆNH

2.4. ĐÁNH GIÁ NẤM GÂY BỆNH THAN THƯ TRÊN XOÀI BẰNG ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

2.5. ĐỊNH DANH BẰNG KỸ THUẬT PHÂN TỬ VÀ PHẢN ỨNG PCR

2.6. QUY TRÌNH ĐIỆN DI KIỂM TRA DNA TỔNG SỐ CỦA NẤM

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. THU THẬP VÀ PHÂN LẬP NẤM Colletotrichum spp.

3.2. ĐỊNH DANH Colletotrichum spp. BẰNG ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ KỸ THUẬT PHÂN TỬ

3.2.1. ĐỊNH DANH NẤM Colletotrichum spp. BẰNG ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

3.2.2. ĐỊNH DANH NẤM Colletotrichum spp. BẰNG KỸ THUẬT PHÂN TỬ

3.3. KẾT QUẢ LÂY BỆNH NHÂN TẠO THEO QUY TẮC KOCH

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu Colletotrichum spp

Nghiên cứu về Colletotrichum spp. gây bệnh than thư trên cây xoài tại tỉnh Đồng Tháp là một vấn đề quan trọng trong nông nghiệp. Bệnh than thư do nấm Colletotrichum gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng trái xoài. Việc phân lập và định danh nấm gây bệnh là cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây xoài và bệnh than thư

Cây xoài (Mangifera indica) là một trong những cây ăn quả quan trọng tại Việt Nam. Bệnh than thư do Colletotrichum spp. gây ra, thường xuất hiện trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, làm giảm năng suất cây trồng.

1.2. Tình hình bệnh than thư trên cây xoài tại Đồng Tháp

Tỉnh Đồng Tháp là một trong những vùng trồng xoài lớn nhất Việt Nam. Bệnh than thư đã gây thiệt hại lớn cho nông dân, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu Colletotrichum spp

Việc xác định chính xác loài nấm Colletotrichum spp. gây bệnh than thư là một thách thức lớn. Các loài nấm này có đặc điểm hình thái tương tự nhau, dễ gây nhầm lẫn trong quá trình phân lập và định danh. Điều này đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp hiện đại để đảm bảo độ chính xác.

2.1. Khó khăn trong việc phân lập nấm gây bệnh

Quá trình phân lập nấm từ mẫu bệnh gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng của các loài Colletotrichum. Việc sử dụng các phương pháp phân tích hình thái và phân tử là cần thiết để xác định chính xác.

2.2. Tác động của bệnh than thư đến sản xuất nông nghiệp

Bệnh than thư không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn làm giảm chất lượng trái xoài, gây thiệt hại kinh tế cho nông dân. Việc tìm ra giải pháp phòng ngừa hiệu quả là rất cần thiết.

III. Phương pháp phân lập và định danh Colletotrichum spp

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân lập nấm từ mẫu bệnh và định danh bằng kỹ thuật phân tử. Các mẫu nấm được thu thập từ cây xoài tại Đồng Tháp và được phân tích để xác định loài chính xác.

3.1. Quy trình thu thập mẫu bệnh

Mẫu bệnh được thu thập từ các vườn xoài có triệu chứng bệnh than thư rõ rệt. Quy trình thu thập đảm bảo tính đại diện cho tình hình bệnh tại địa phương.

3.2. Kỹ thuật phân lập và định danh nấm

Sử dụng kỹ thuật phân lập trên môi trường PDA và định danh bằng phản ứng PCR để xác định các loài nấm Colletotrichum gây bệnh. Kết quả cho thấy sự đa dạng của các loài nấm trong khu vực.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có ít nhất hai loài nấm Colletotrichum gây bệnh than thư trên cây xoài tại Đồng Tháp. Việc xác định chính xác các loài nấm này giúp nông dân có biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

4.1. Đánh giá khả năng gây bệnh của Colletotrichum spp.

Các mẫu nấm được kiểm tra khả năng gây bệnh trên trái xoài Cát Chu. Kết quả cho thấy tất cả các mẫu nấm đều có khả năng gây bệnh, cần có biện pháp phòng ngừa kịp thời.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân phòng trừ bệnh than thư hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng suất cây trồng.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về Colletotrichum spp. gây bệnh than thư trên cây xoài tại Đồng Tháp đã cung cấp những thông tin quý giá. Việc định danh chính xác các loài nấm sẽ giúp cải thiện công tác phòng trừ bệnh trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu nấm gây bệnh

Việc nghiên cứu nấm gây bệnh là rất quan trọng trong việc bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất nông nghiệp. Cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

5.2. Hướng đi cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc phát triển các biện pháp sinh học và hóa học để kiểm soát bệnh than thư, đồng thời nâng cao nhận thức cho nông dân về bệnh này.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật phân lập và định danh nấm colletotrichum spp gây bệnh thán thư trên cây xoài tại tỉnh đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tông quan về cay xoài: Nguôn goc và sự phan bô cây xoài: Xoài (Mangifera indica) có nguồn gốc từ Đông Bắc An Độ, miền Bắc Myanmar rồi từ đó du nhập sang các nước Đông Nam Á. Xoài hiện được trồng chủ yếu tại sáu nước theo thứ tự sản lượng là Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippines va Việt Nam. Theo Nguyễn Văn Kế (2014), xoài được trồng ở khoảng 100 nước và vùng lãnh thé khác nhau, trong đó Châu A chiếm 80%, Châu Mỹ 13%, Châu Phi 7%. Ở Châu Á, xoài được trồng chủ yếu ở Đông Nam Á và Trung Quốc.

Ở Việt Nam, xoài được trồng ở hầu hết các tỉnh và tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Nam Bộ: Đồng Tháp, Tiền Giang, Đồng Nai. Theo Niêm Giám Thống Kê của Tổng cục Thống Kê (2011), diện tích xoài được gieo trồng ước tính khoảng 86.400 ha và điện tích thu hoạch là 71.800 ha , riêng tỉnh Đồng Tháp có khoảng 9.2 Phân loại Tên tiếng anh: Mango Thuộc họ Đào lộn hột: Anacardiaceae. Phân loại khoa học xoài Giới: Plantae Bộ: Sapindales Họ: Anacardiaceae Chi: Mangifera Loài: Mangifera indica (Nguon-https://vi.org/wiki/Xoai) 1.1 Các giống xoài Xoài có rất nhiều giống, nhưng có 2 nhóm giống cơ bản là nhóm An Độ (hat đơn phôi) và nhóm Đông Nam Á (hạt đa phôi). Nhóm đơn phôi thường cho trái quanh năm.

Ngoài những loài xoài dại và ban dại như Quéo, Muỗm, xoài Hôi, xoài Muỗm, mắc chai, Mỏ gà, xoài rừng,. ở nước ta đã thống kê được có hàng trăm giống xoài trồng. Nếu thống kê đầy đủ, có chuyên gia dự đoán ỏ Việt Nam phải có hàng ngàn giống xoài, điều này phù hợp với ý kiến cho rằng Việt Nam cũng có thé là một trong những cái nôi của xoài, gióng như cây lúa.Một số giống xoài phổ biến ở Việt Nam hiện nay: Xoài cát Chu, xoài cát Hòa Lộc, xoài Tứ Quí, xoài Đài Loan.2 Đặc tính một số giống xoài Xoài Cát Chu Được trồng khá phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL, tập trung nhất là tỉnh Đồng Tháp. Giống này có chất lượng trái ngon, ngọt, vị hơi chua, thịt mịn, chắc, dang trái thuôn, tròn ở phần cuống.

Tỷ lệ thịt ăn được cao 78 - 80%. Là giống có đặc tính dé ra hoa và đậu trái, năng suất rất cao. Cây 10 năm tuổi cho thu hoạch 300 - 400kg/cây/năm. Trọng lượng trái trung bình 300 - 400g, vỏ màu vàng đậm và thịt màu đỏ, vỏ trái mong.

Xoai Cat La một trong những giống xoài nổi tiếng nhất cả nước, đặc biệt là xoài Cát Hòa Lộc nỗi tiếng ở nhiều thị trường nước ngoài. Hòa Lộc là tên của một ấp thuộc xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, gần cầu treo Mỹ Thuận. Trái xoài Cát Hòa Lộc to, có đạng hình thuôn dài, đuôi trái nhỏ, bầu tròn ỏ phía cuống. Khi chín vỏ quả có mau vàng chanh, thịt màu vàng tươi.

Trọng lượng 1 quả từ 400g - 600g, hạt nhỏ. Thịt day, có mùi thơm đặc trưng va vi ngọt vừa với thi hiểu chung. Ty lệ thịt cao trên 80%, độ Brix 20 - 24%. Xoài bưởi ( 3 mùa mưa) Là giống xoài được trồng phô biến sau xoài Cát nhưng mở rộng diện tích nhanh mặc dù phâm chat kém hơn so với xoài Cat.

Goi là xoài Bưởi vì vai năm đâu quả có mùi bưởi. Còn được gọi là xoài "3 mùa mưa" vì sau 3 năm trông từ hạt là có trái, thậm chí nhiều hộ chăm bón tốt cây xoài bói trái chỉ sau khi trồng có 18 tháng.3 Giá trị dinh dưỡng của xoài Lá xoài non được dùng làm rau ăn sống ở nhiều nước vùng Đông Nam Á và Ấn Độ lá xoai non (màu tím hoặc xanh nhạt) được dùng làm rau ghém ăn sống. Lá và đọt xoài non có vị chua, thơm, được dùng ăn sống chung với nhiều loại rau rừng khác.Ở Việt Nam lá xoài non được ăn với rau tập tàng, đặc biệt ở Miền Nam lá và đọt xoài dùng dé ăn với bánh xèo, bánh công. Xoài có hương vị phong phú, đậm đà, chứa vitamin A (1.880pg p-caroten trong 100g trái cây) cao hơn hắn nhiều loại trái cây khác, như cam (465pg), chuối (225pg), đu đủ (710pg), đứa (35pg), sầu riêng (10pg), bơ (205pg), gạo (Opg), ngô (270pg),,.

Hàm lượng vitamin c trong xoai cũng vào loại kha, đạt 36mg/100g trái cây, trong khi cam đạt 42mg, chuối đạt 14mg, dứa đạt 22mg, bơ đạt 8mg. Khi ăn xoài xanh, hàm lượng vitamin c cao hơn, nhưng vitamin A giảm. Cũng như nhiều loại trái cây khác, ngoài vitamin A và c, trái xoài còn chứa nhiều chất khác như protein, lipid, gluxit, tro, canxi (Ca), sắt (Fe), photpho (P).Xoài là nguồn nguyên liệu có thể chế biến thành nhiều đồ dùng hấp dẫn, như xoài cắt thành từng lát sấy khô đóng gói, nectar xoài (cô đặc), chutney (xoài cắt thành từng miếng trộn voi đường dâm). và những sản phâm xoài chê biên xuât khâu dê hơn xoài tươi.

Quả Xoài có tác dụng câm máu, lợi tiêu, được dùng đê chữa ho ra máu, chảy máu đường ruột, đau răng, rong kinh, trừ giun sán. Tât cả các loại xoài ở Việt Nam đêu có thé dùng làm thuốc. Xoài được xem là thức ăn bé não, rất tốt cho người lao động trí óc nhiều. Trái xoài có tác dụng chống viêm, diệt khuẩn, làm giảm cholesterol trong máu, hạ huyết áp phòng chống bệnh tim mạch, tăng nhu động ruột làm thải nhanh các chất cặn bã trong ruột nên phòng chống được ung thư ruột kết (trái chín ăn ít nhuận tràng, ăn nhiều có thể gây tiêu chảy; trái xanh chua chát nếu ăn nhiều gây táo bón, gây vón có thể làm tắc ruột).1 Thành phần dinh dưỡng của x 100 g phan ăn được theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) Chat Ham luong Chat Ham lượng Carbohydrates 15g Thiamine (vit.028mg (2%) Nang luong 60kcal Riboflavin (vit.038mg (3%) Chat xo 1.197mg (4%) Vitamin A (stliv.119 mg (9%) beta-carotene 640ug (6%) Folate (vit.

Bo) 43ug (11%) Vitamin C 36.4 Đặc điểm thực vật học 1.1 Đặc điểm thực vật cây xoài Than cay và tán cay Xoài là cây đại mộc, tan rộng, cây trồng bằng hạt có thể cao tới 30-40 m và có thé sống từ 100 — 300 năm, nhưng nếu là cây ghép thì tán hẹp và thấp (10 — 15 m), cây mau côi. Tan có hình dạng cầu, nhiều cành. Thân san sùi và có các vết nứt dọc theo thân cây. Các biện pháp kĩ thuật áp dụng như cắt tỉa, trồng dày để khống chế chiều cao và đường kính tán cây giúp cho việc chăm sóc, bao trái, thu hoạch dé dàng.

Rễ cây xoài Phan lớn rễ phân bố ở tang dat từ 0 — 50 cm ở những vùng có mực nước ngầm thấp hay đất cát, rễ có thé ăn rất sâu (6 — 8 m). Tuy nhiên, phần lớn rễ tập trung trong phạm vi cách gốc khoảng 2 m. Lá và cơi đọt xoài Lá xoài dài khoảng từ 15-40 cm, rộng 5-7,5 cm mọc trên các long ngắn va mọc nhiều hơn trên các cành mang hoa. Là mọc thành từng đợt gọi là kỳ phất môn hay kỳ phat lá (nông dân hay là “coi ngọn”).

Mỗi năm ra từ 2 — 4 kỳ, mỗi kỳ phát là làm nượn dai 20 — 60 cm. Kiểm soát coi ngọn và màu lá khá quan trọng trong quá trình xử lý ra hoa. Đường kính cơi ngọn to, số lá nhiều, các cơi ngọn không mọc quá dày sẽ cho kết quả ra hoa tốt. Phát hoa và hoa xoài Cây Xoài được trồng bang hạt sau 6 — 8 năm mới bat dau ra hoa (riêng đối với xoài Bưởi ra hoa sớm hơn, khoảng 3 năm tuôi thì cây ra hoa).

Đối với xoài ghép thông thường sau 3 năm xoài ra hoa. Hoa mọc thành chùm, phát hoa có 2 kiểu tùy giống: kiểu hình tháp nhọn có cuống chính dài khoảng 30 — 50 cm, đường kính phần lớn có dang đáy hẹp khoảng 20 — 30 cm, kiểu hình nón có cuống chính ngắn và đường kính đáy rộng. Số lượng nhánh bên thay đổi tùy thuộc vào giống và tình trạng dinh dưỡng của cây. Một phát hoa xoài có rất nhiều hoa, khoảng vài trăm đến vải ngàn hoa, gồm hoa đực và hoa cái.

Hoa thụ phan chủ yếu nhờ côn trùng, va sự thụ phan phụ thuộc vào thời tiết. Trái và hạt Do Xoài thuộc loại quả nhân cứng. Trái xoài có nhiêu dạng: tròn, bau dục, dai. Và trái có màu từ xanh đên vàng và đỏ.

Hạt xoài có bao cứng, ngoài bao hạt có nhiêu xơ. Hạt xoài có 2 loại: hạt đa phôi (xoài Đông Nam A) và hạt một phôi (xoài An Đội. Thời vụ trồng Xoài được trông vào đâu mùa mưa. ở miền Nam vào tháng 4, tháng 5.

Ở từng vùng cụ thể cần điều chỉnh thời gian trồng thích hợp đề đảm bảo cây trồng xuống đạt tỷ lệ sống cao, như ở Trà Vinh — nơi chịu ảnh hưởng của mặn phèn, năm 2004 hạn Bà Chang ở miền Tây sớm vao tháng 6 dau tháng 7, nên trồng sớm vào tháng 4 tháng 5 có thé bị hại nếu tưới không đủ. Ở miền Bắc do có mưa phùn trời ẩm nên có thé trồng sớm hơn khoảng 1 tháng, trồng vao thang 3, tháng 4.2 Điều kiện sinh trưởng Nhiệt độ, âm độ Vì xoài là giống cây nhiệt đới nên phát triển tốt ở mức nhiệt cao, có khả năng chịu nhiệt lên đến 40 — 459 C tùy giống. Tuy nhiên, nhiệt độ lý tưởng nhất cho sự phát triển của xoài là khoảng 23 — 28° C. Nên tránh việc trồng xoài ở những vùng mưa nhiều, thời tiết lạnh quanh năm, hoặc bắt đầu mùa vụ vào đúng thời điểm thời tiết diễn biến cực đoan như sương mudi, rét đậm, rét hạn.

Dat dai Nếu xoài được trồng trên đất thấp, biện pháp tối ưu dé chống ngập ung là phải trồng trên mô dat, hoặc lên liếp. Theo Nguyễn Văn Kế (2014), lúc đầu mô có thé chỉ rộng chừng 0,6 — 1 m và cao từ 30 — 60 cm so với mặt nước ruộng, sau đó bồi mô và lên liếp dan dần. Trên đất thấp đào hồ có kích thước 40x40x40 cm, bón lót 10 — 20 kg phân chuồng đã qua xử lí cho oai mục và khoảng 0,2 kg NPK 16 — 16 — 8 (có thé thay thé bằng 0,5 kg lân). Trên đất cao, hố đào có kích thước lớn hơn và tối đa là 70x70x70 cm, bón lót 20 kg phân chuồng đã được xử lí và 0,5 — 1 kg lân.

Khoảng cách trồng Cây được trồng bằng hột có khoảng cách trồng lớn hơn so với cây được trồng bằng phương pháp ghép. tùy giống xoài cây 8 cao hay thấp. Nếu trồng quá dầy, vườn xoải đễ nhiễm sâu bệnh. Xoài Bưởi thường được trồng ở mật độ dầy hơn còn xoài Cát Hòa Lộc trồng thưa hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Phân Lập và Định Danh Colletotrichum spp. Gây Bệnh Than Thư Trên Cây Xoài Tại Đồng Tháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phân lập và xác định các loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên cây xoài. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện các tác nhân gây bệnh mà còn mở ra hướng đi mới trong việc quản lý và phòng ngừa bệnh cho cây xoài, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Đánh giá khả năng đối kháng của nấm men có trên vỏ xoài cát hòa lộc đối với nấm colletotrichum gloeosporioides gây bệnh thán thư, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về khả năng kháng bệnh của nấm men. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật phân lập và định danh nấm colletotrichum spp gây bệnh thán thư trên ớt capsicum spp tại lâm đồng và bà rịa vũng tàu cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về việc phân lập nấm Colletotrichum trên cây ớt, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các loài nấm gây bệnh trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về bệnh thán thư và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.