Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ớt (Capsicum spp.) thuộc họ Cà (Solanaceae) là một trong những loại cây gia vị có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, chứa hàm lượng lớn vitamin C (lên tới 340 mg/100g quả tươi ở một số giống), vitamin A, folate và hoạt chất capsaicin. Trong canh tác ớt tại Việt Nam cũng như trên thế giới, bệnh thán thư do nấm Colletotrichum spp. gây ra là một trong những dịch hại nghiêm trọng nhất trong cả giai đoạn trước và sau thu hoạch. Bệnh có thể làm suy giảm năng suất từ 50% đến 80%, đồng thời làm giảm phẩm chất quả, giảm trọng lượng khô cũng như hàm lượng capsaicin và oleoresin thương phẩm.

Việc định danh chính xác tác nhân nấm gây bệnh đến cấp độ loài có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng quy trình phòng trừ và quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, phương pháp phân loại truyền thống chỉ dựa trên đặc điểm hình thái học (như hình dạng, kích thước bào tử phân sinh, giác bám, tốc độ sinh trưởng tản nấm) thường gặp nhiều hạn chế và dễ gây nhầm lẫn do các chỉ tiêu hình thái biến thiên lớn theo điều kiện môi trường nuôi cấy và sự tồn tại của các phức hợp loài (species complex). Do đó, việc ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử kết hợp với hình thái học là yêu cầu cần thiết nhằm xác định chính xác thành phần loài Colletotrichum spp. gây hại trên ớt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Định danh chính xác cấp độ loài các mẫu nấm Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư trên quả ớt thu thập tại một số khu vực thuộc vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Thu thập các mẫu quả ớt có biểu hiện triệu chứng bệnh thán thư điển hình tại các vùng trồng ớt trọng điểm.
    • Phân lập, làm thuần và khảo sát đặc điểm hình thái học của các dòng nấm phân lập được.
    • Ly trích DNA tổng số, thực hiện phản ứng PCR khuếch đại vùng gen đệm phiên mã nội (Internal Transcribed Spacer - ITS), giải trình tự DNA và phân tích phát sinh loài để định danh đến cấp độ loài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chủng nấm thuộc chi Colletotrichum spp. phân lập từ quả ớt bị nhiễm bệnh thán thư trên hai giống ớt chỉ thiên F1 GM40 và CT108.
  • Phạm vi không gian: Mẫu bệnh được thu thập tại ruộng canh tác thuộc xã Ka Đô (huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) đại diện cho Tây Nguyên và xã Bông Trang (huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đại diện cho Đông Nam Bộ. Các nội dung thí nghiệm được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 05 năm 2022 đến tháng 11 năm 2022 (thời gian thu thập mẫu ngoài đồng ruộng vào tháng 04/2022 và tháng 06/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và khung phân loại

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tiếp cận đa diện (polyphasic approach) kết hợp giữa đặc điểm sinh học hình thái học cổ điển và chỉ thị phân tử:

  • Khung phân loại hình thái học: Dựa trên khóa phân loại nấm Colletotrichum của Sutton (1995) và các tiêu chuẩn đánh giá tản nấm, cấu trúc giác bám, bào tử của Cai và cộng sự (2009). Quá trình gây bệnh của nấm trải qua các giai đoạn hình thành đĩa bám, xâm nhập biểu bì nhờ áp lực cơ học và enzyme phân hủy thành tế bào (CWDEs), chuyển tiếp giữa giai đoạn tiềm sinh và hoại sinh (hemibiotrophic hoặc subcuticular intramural necrotrophic).
  • Chỉ thị phân tử vùng gen ITS: Vùng đệm phiên mã nội (Internal Transcribed Spacer - ITS) thuộc cụm gen rDNA nhân, nằm giữa gen mã hóa rRNA tiểu đơn vị nhỏ và tiểu đơn vị lớn (bao gồm ITS1, 5.8S rRNA và ITS2). Vùng ITS có chiều dài dao động 600 - 700 bp, có tính bảo thủ cao trong cùng một loài nhưng biến đổi rõ rệt giữa các loài khác nhau, được xem là mã vạch chuẩn (DNA barcode) trong phân loại nấm học.
  • Phương pháp suy luận tiến hóa: Phương pháp Xác suất tối đa (Maximum Likelihood), Tiết kiệm tối đa (Maximum Parsimony) và thuật toán ma trận khoảng cách UPGMA tích hợp trong phần mềm tin sinh học để dựng cây phát sinh chủng loại với giá trị lặp lại bootstrap.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Thu thập và phân lập nấm: Thu thập các mẫu quả ớt mới xuất hiện vết bệnh hình thoi hoặc hình tròn lõm ướt, có vòng tròn đồng tâm chứa khối bào tử màu hồng cam hoặc chấm đen. Mẫu được cắt tại vị trí tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khỏe, khử trùng bề mặt bằng ethanol 70% trong 5 giây, rửa lại bằng nước cất vô trùng, thấm khô và đặt lên môi trường thạch nước cất (Water Agar - WA). Sau khi sợi nấm mọc khoảng 5 mm, tiến hành cấy truyền khoanh thạch 2 x 2 mm sang môi trường thạch khoai tây dextrose (Potato Dextrose Agar - PDA), lặp lại 3 lần cấy truyền liên tiếp để thu nhận các dòng nấm thuần khiết.
  • Khảo sát đặc tính hình thái: Cấy khoanh thạch đường kính 5 mm của dòng nấm thuần lên đĩa PDA, ủ tối ở 27°C trong 7 ngày để theo dõi màu sắc tản nấm, cấu trúc mặt trước và mặt sau đĩa thạch. Đánh giá đặc điểm giác bám bằng cách cấy bào tử trên môi trường PDA mỏng (1 cm²), áp lamen vô trùng, ủ ở 25°C trong 7 ngày và quan sát kích thước, hình dạng dưới kính hiển vi quang học Olympus BX40.
  • Kỹ thuật sinh học phân tử:
    • Ly trích DNA tổng số: Sử dụng bộ kít tách chiết DNA cột silica của Công ty TNHH Giải pháp Y sinh ABT với quy trình 8 bước ly giải mẫu bằng TL buffer, proteinase K (ở 72°C) và CL buffer, rửa sạch bằng cồn và đệm rửa WB1, WB2, sau đó hoàn nguyên DNA bằng EB buffer.
    • Kiểm tra chất lượng DNA: Điện di trên gel agarose 1,0% trong đệm TBE 0,5X ở hiệu điện thế 100V trong 25 phút, nhuộm ethidium bromide và chụp ảnh gel dưới tia UV bằng hệ thống Gel Doc.
    • Phản ứng PCR khuếch đại vùng gen ITS: Sử dụng cặp mồi ITS5 (5’-GGAAGTAAAAGTCGTAACAAGG-3’) và ITS4 (5’-TCCTCCGCTTATTGATATGC-3’) (White et al., 1990). Thể tích phản ứng 25 µL gồm: DreamTaq Green 2X (12,5 µL), mồi xuôi 0,2 µM (2 µL), mồi ngược 0,2 µM (2 µL), mẫu DNA khuôn (2 µL) và nước cất vô trùng (6,5 µL). Chu trình nhiệt trên máy Blue-Ray Biotech TurboCycler: Biến tính ban đầu 95°C trong 5 phút; 35 chu kỳ gồm (95°C trong 30 giây, bắt cặp ở 55°C trong 30 giây, kéo dài ở 72°C trong 45 giây); kéo dài lần cuối ở 72°C trong 7 phút. Kiểm tra sản phẩm PCR trên gel agarose 1,5% với thang chuẩn DNA Ladder 100 bp.
    • Giải trình tự và xử lý dữ liệu: Sản phẩm PCR được giải trình tự hai chiều Sanger thương mại. Dữ liệu thô được hiệu chỉnh và cắt tỉa đoạn nhiễu bằng phần mềm BioEdit ver. 7.0, tiến hành truy vấn tương đồng chuỗi nucleotide qua công cụ BLASTn trên cơ sở dữ liệu GenBank (NCBI), và xây dựng cây phát sinh chủng loại bằng phần mềm MEGA ver. 6.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa toàn diện các kiến thức về cây ớt, bệnh thán thư và phương pháp giám định:

  • Nguồn gốc, phân loại và đặc tính thực vật học cây ớt: Chi Capsicum có từ 20 đến 27 loài hoang dại và 5 loài thuần hóa phổ biến (C. annuum, C. frutescens, C. chinense, C. pubescens, C. baccatum). Bộ nhiễm sắc thể của ớt là lưỡng bội ($2n = 24$ hoặc $2n = 26$). Cung cấp bảng khóa phân loại 5 loài Capsicum dựa trên màu tràng hoa, đốm tràng hoa, màu bao phấn, răng đài hoa, màu hạt và số hoa trên mỗi đốt. Cây có hệ rễ cọc kết hợp rễ chùm tập trung ở tầng 0 - 30 cm; ưa nhiệt độ 20 - 30°C và độ ẩm đất 70 - 80%.
  • Bệnh thán thư hại ớt: Tác nhân thuộc chi Colletotrichum (giai đoạn hữu tính là Glomerella), ngành Ascomycota. Các loài gây hại phổ biến trên thế giới gồm C. acutatum, C. capsici, C. gloeosporioides, C. coccodes, C. truncatum. Nêu rõ triệu chứng bệnh phân chia thành 3 dạng điển hình trên quả theo Fangling Liu (2016). Cơ chế xâm nhiễm của nấm diễn ra qua giai đoạn bào tử nảy mầm, hình thành giác bám tạo áp lực xuyên thủng biểu bì nhờ tích lũy glycerol và tiết enzyme ngoại bào.
  • Tổng quan về phức hợp loài Colletotrichum gloeosporioides: Có phổ ký chủ rộng trên 70 loại cây trồng nhiệt đới và cận nhiệt đới; tồn tại nội sinh hoặc hoại sinh trên tàn dư thực vật. Nêu các nghiên cứu về cơ chế kháng bệnh ở ớt liên quan đến hàm lượng capsaicin và chất chuyển hóa phytoalexin (capsidiol sesquiterpenoid).
  • Ứng dụng sinh học phân tử trong định danh: Tổng quan về các hệ thống chỉ thị DNA (RFLP, RAPD, SSR, AFLP, ITS) và giá trị của vùng gen ITS trong phân loại học nấm; nguyên lý xây dựng cây phát sinh loài theo mô hình xác suất tối đa (Maximum Likelihood).

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết các bước tiến hành thực nghiệm, danh mục trang thiết bị, hóa chất và nguồn mẫu bệnh:

  • Trình bày thông tin mã hóa 16 mẫu nấm phân lập từ 50 mẫu bệnh thu thập tại thực địa: 10 mẫu tại xã Ka Đô, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (mã số LD01 đến LD10, thu trên giống ớt GM40 vào tháng 04/2022) và 6 mẫu tại xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (mã số BR01 đến BR06, thu trên giống ớt CT108 vào tháng 06/2022).
  • Quy chuẩn hóa quy trình phân lập nấm trên môi trường WA và PDA; quy trình tạo giác bám nhân tạo trên lam kính.
  • Mô tả chi tiết quy trình 8 bước ly trích DNA tổng số bằng bộ kít thương mại ABT; thành phần hóa chất cho 1 phản ứng PCR 25 µL và thông số chu trình nhiệt luân nhiệt 35 chu kỳ với cặp mồi ITS5/ITS4; phương pháp điện di kiểm tra sản phẩm PCR và xử lý dữ liệu tin sinh học bằng BioEdit và MEGA 6.
Ký hiệu mẫu Thời gian thu Giống ớt Địa điểm thu thập
LD01 – LD10 04/2022 Chỉ thiên F1 GM40 Xã Ka Đô, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
BR01 – BR06 06/2022 Chỉ thiên CT108 Xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình phân lập, khảo sát hình thái và phân tích trình tự DNA:

  • Kết quả phân lập và phân nhóm hình thái: Từ 50 mẫu quả có triệu chứng thán thư ban đầu ngoài đồng ruộng, nghiên cứu đã phân lập và làm thuần thành công 16 dòng nấm Colletotrichum spp. Căn cứ vào các đặc điểm hình thái tản nấm, bào tử phân sinh và giác bám sau 7 ngày nuôi cấy trên môi trường PDA, 16 mẫu nấm được phân chia thành 3 nhóm hình thái riêng biệt:
    • Nhóm I (gồm 13 mẫu: LD01 – LD10, BR02, BR04, BR05): Tản nấm có màu trắng hoặc cam hồng, mặt trên xuất hiện nhiều chấm nhỏ màu đen rải rác, không tạo vòng tròn đồng tâm; mặt dưới có màu hồng cam hoặc ánh vàng. Sợi nấm trắng, có vách ngăn, mọc sát mặt thạch. Bào tử phân sinh có dạng hình trụ, hai đầu tù hoặc tròn, kích thước dao động trong khoảng 10,9 – 13,6 × 3,4 – 4,9 µm. Giác bám có màu nâu đến nâu đậm, hình trứng tây, hình elip đến gần hình thoi.
    • Nhóm II (gồm 2 mẫu: BR01, BR06): Tản nấm màu trắng hoặc trắng xám, rìa mép tròn đều; mặt dưới tản nấm màu trắng hoặc hơi xám đen. Đặc điểm bào tử phân sinh tương tự Nhóm I. Giác bám màu nâu đậm, hình trứng tây đến gần hình thoi, một số có dạng bất định.
    • Nhóm III (gồm 1 mẫu duy nhất: BR03): Tản nấm màu trắng, mặt dưới màu trắng đục sinh trưởng tạo thành các đường tròn đồng tâm rõ rệt. Bào tử phân sinh dạng hình elip, kích thước nhỏ hơn đáng kể ($4,7 \pm 1,4 \times 1,7 \pm 0,6\ \mu\text{m}$). Giác bám có màu nâu đến nâu đậm, dạng hình thoi, hình trứng hoặc bất định.
  • Kết quả định danh sinh học phân tử:
    • Chọn 9 mẫu đại diện cho cả 3 nhóm hình thái (LD01, LD02, LD04, LD06, BR01, BR02, BR03, BR04, BR05, BR06) để ly trích DNA và khuếch đại PCR vùng gen ITS.
    • Kết quả điện di sản phẩm PCR cho thấy tất cả 9 mẫu đều xuất hiện một băng DNA duy nhất, rõ nét, có kích thước đồng nhất khoảng 610 bp.
    • Kết quả giải trình tự hai chiều Sanger và tra cứu BLAST trên cơ sở dữ liệu GenBank (NCBI) cùng phân tích cây phát sinh chủng loại đã phân loại chính xác 9 mẫu đại diện thành 2 nhóm loài:
      1. Colletotrichum scovillei: Gồm 6 mẫu thuộc Nhóm hình thái I (LD01, LD02, LD04, BR02, BR04, BR05) với độ tương đồng chuỗi nucleotide rất cao từ 98,93% đến 100% so với các mẫu chuẩn trên GenBank (có nguồn gốc phân lập từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Brazil và Việt Nam). Cây phả hệ chỉ ra các mẫu này nằm trọn trong nhánh tiến hóa của cụm loài C. scovillei.
      2. Phức hợp loài Colletotrichum gloeosporioides: Gồm 3 mẫu thuộc Nhóm hình thái II (BR01, BR06) và Nhóm hình thái III (BR03) với độ tương đồng chuỗi nucleotide đạt từ 98,00% đến 99,82% so với các mẫu C. gloeosporioides chuẩn từ Sri Lanka, Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ.
STT Nhóm hình thái Mã mẫu nấm Kích thước đoạn ITS sau xử lý (bp) Độ tương đồng BLAST (%) Tên loài/nhóm loài xác định
1 I LD01 514 99,80% Colletotrichum scovillei
2 I LD02 597 100,00% Colletotrichum scovillei
3 I LD04 586 100,00% Colletotrichum scovillei
4 I BR02 604 99,29% Colletotrichum scovillei
5 I BR04 609 99,82% Colletotrichum scovillei
6 I BR05 614 98,93% Colletotrichum scovillei
7 II BR01 551 99,82% Colletotrichum gloeosporioides complex
8 II BR06 578 99,82% Colletotrichum gloeosporioides complex
9 III BR03 555 99,82% Colletotrichum gloeosporioides complex

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực nghiệm chính:
    • Thu thập 50 mẫu bệnh thán thư quả ngoài đồng, phân lập và làm thuần thành công 16 chủng nấm Colletotrichum spp. trên môi trường nhân tạo PDA.
    • Phân loại 16 dòng nấm thành 3 nhóm hình thái học dựa trên màu sắc tản nấm, hình thái đĩa bám và kích thước bào tử phân sinh.
    • Khuếch đại thành công vùng gen ITS của 9 mẫu nấm đại diện bằng PCR với sản phẩm kích thước đồng nhất khoảng 610 bp.
    • Xác định chính xác 6 mẫu nấm (chiếm 66,7% số mẫu phân tích phân tử) là loài Colletotrichum scovillei với độ tương đồng 98,93% – 100%; 3 mẫu nấm còn lại (chiếm 33,3%) thuộc phức hợp loài Colletotrichum gloeosporioides với độ tương đồng 98,00% – 99,82%.
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn:
    • Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về sự phân bố và thành phần loài nấm gây bệnh thán thư hại ớt tại hai vùng sinh thái nông nghiệp Lâm Đồng (Tây Nguyên) và Bà Rịa – Vũng Tàu (Đông Nam Bộ).
    • Khẳng định loài Colletotrichum scovillei là tác nhân phổ biến chủ đạo gây thán thư trên các giống ớt chỉ thiên tại các địa bàn nghiên cứu, phù hợp với các công bố quốc tế của de Silva và cộng sự (2016, 2019) tại Châu Á cũng như ghi nhận của Nguyễn Thị Yến Nhi (2022) tại Tây Ninh.
    • Minh chứng rõ ràng về tính thiếu chính xác khi chỉ dựa vào quan sát hình thái học để phân loại nấm (điển hình mẫu BR03 có hình thái nhóm III khác biệt nhưng giải trình tự phân tử vẫn thuộc nhóm C. gloeosporioides), khẳng định vai trò thiết yếu của phương pháp phân tử giải trình tự gen.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi thu mẫu mới chỉ giới hạn tại 2 địa phương (Lâm Đồng và Bà Rịa – Vũng Tàu) trên các giống ớt chỉ thiên (GM40 và CT108), chưa mở rộng khảo sát trên các vùng trồng ớt khác hoặc trên các giống ớt ngọt, ớt chuông.
    • Trong số 16 mẫu nấm làm thuần, mới thực hiện giải trình tự phân tử đại diện trên 9 mẫu.
    • Nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất một chỉ thị phân tử là vùng gen đệm phiên mã nội ITS. Vùng ITS đủ để định danh đến loài C. scovillei, tuy nhiên chưa đủ độ biến dị phân giải để tách biệt chi tiết các loài đơn lẻ trong phức hợp loài Colletotrichum gloeosporioides.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo do tác giả đề xuất:
    • Tiếp tục thực hiện định danh sinh học phân tử cho toàn bộ các mẫu nấm còn lại đã phân lập nhằm tránh sai sót từ phân loại hình thái.
    • Bổ sung và kết hợp giải trình tự đa vùng gen (multi-locus sequence typing) sử dụng thêm các đoạn gen mã hóa chức năng như ApMat (vùng liên gen apn2 và MAT1-2-1), $\beta$-tubulin (TUB2), Actin (ACT), Glyceraldehyde-3-phosphate dehydrogenase (GAPDH), và Calmodulin (CAL) để định danh chính xác từng loài thành viên thuộc phức hợp Colletotrichum gloeosporioides.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Bệnh học thực vật (Plant Pathology) và Công nghệ sinh học nông nghiệp.

Tài liệu cung cấp hướng dẫn thực nghiệm chi tiết và đáng tin cậy về quy trình thu mẫu, kỹ thuật làm thuần nấm thán thư từ mô bệnh quả, quy trình ly trích DNA nấm sợi bằng kít cột silica, cũng như các thông số chuẩn của phản ứng PCR khuếch đại vùng gen ITS (nồng độ mồi, chu trình nhiệt) và các bước phân tích tin sinh học (BioEdit, BLAST, MEGA) phục vụ công tác giám định mầm bệnh vi nấm trong nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài đã thu thập bao nhiêu mẫu bệnh và làm thuần được bao nhiêu mẫu nấm Colletotrichum spp.?
Tác giả đã thu thập tổng cộng 50 mẫu quả ớt có biểu hiện triệu chứng bệnh thán thư ngoài đồng ruộng tại xã Ka Đô (Lâm Đồng) và xã Bông Trang (Bà Rịa – Vũng Tàu). Sau quá trình phân lập và cấy truyền 3 lần trên môi trường PDA, đề tài đã thu nhận được 16 mẫu nấm thuần khiết (gồm 10 mẫu ký hiệu LD01 – LD10 tại Lâm Đồng và 6 mẫu ký hiệu BR01 – BR06 tại Bà Rịa – Vũng Tàu).

2. Kỹ thuật sinh học phân tử và cặp mồi nào đã được sử dụng để khuếch đại DNA nấm?
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PCR để khuếch đại vùng gen đệm phiên mã nội (Internal Transcribed Spacer - ITS) với cặp mồi chuẩn ITS5 (5’-GGAAGTAAAAGTCGTAACAAGG-3’) và ITS4 (5’-TCCTCCGCTTATTGATATGC-3’). Thể tích phản ứng 25 µL trên máy luân nhiệt Blue-Ray Biotech TurboCycler với 35 chu kỳ nhiệt, cho ra sản phẩm PCR có kích thước đồng nhất khoảng 610 bp.

3. Kết quả giải trình tự và tra cứu BLAST vùng gen ITS đã định danh được những loài nấm cụ thể nào?
Trong 9 mẫu đại diện được giải trình tự: 6 mẫu nấm (LD01, LD02, LD04, BR02, BR04, BR05) được xác định chính xác là loài Colletotrichum scovillei với độ tương đồng từ 98,93% đến 100%; 3 mẫu nấm còn lại (BR01, BR06 và BR03) có độ tương đồng từ 98,00% đến 99,82% với các loài thuộc phức hợp loài Colletotrichum gloeosporioides.

4. Vì sao phân loại nấm Colletotrichum chỉ dựa trên hình thái học lại dễ dẫn đến sai sót?
Đặc điểm hình thái của nấm Colletotrichum (như màu sắc tản nấm, hình dạng và kích thước bào tử phân sinh, giác bám) phụ thuộc rất lớn vào môi trường nuôi cấy và điều kiện nhiệt độ. Thực nghiệm trong khóa luận chứng minh mẫu BR03 có hình thái tản nấm mọc vòng đồng tâm và kích thước bào tử nhỏ ($4,7 \times 1,7\ \mu\text{m}$) được xếp riêng vào Nhóm hình thái III, nhưng kết quả giải trình tự phân tử ITS lại cho độ tương đồng 99,82% với phức hợp loài C. gloeosporioides, tương tự như các mẫu thuộc Nhóm hình thái II.

5. Tác giả kiến nghị sử dụng thêm các vùng gen nào để phân loại sâu hơn phức hợp loài C. gloeosporioides?
Do vùng gen ITS có tính bảo thủ cao không thể phân biệt rạch ròi các loài đơn lẻ trong phức hợp C. gloeosporioides, tác giả đề xuất phân tích đa locus bổ sung các vùng gen: ApMat, TUB2 ($\beta$-tubulin), ACT (Actin), GAPDH (Glyceraldehyde-3-phosphate dehydrogenase) và CAL (Calmodulin).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Châu Ry đã thực hiện thành công việc phân lập 16 dòng nấm thuần khiết từ 50 mẫu quả ớt nhiễm bệnh thán thư tại Lâm Đồng và Bà Rịa – Vũng Tàu, phân chia thành 3 nhóm hình thái học. Kết quả định danh sinh học phân tử trên vùng gen ITS (kích thước sản phẩm PCR 610 bp) đối với 9 mẫu đại diện đã xác định được 6 mẫu thuộc loài Colletotrichum scovillei (tương đồng 98,93% – 100%) và 3 mẫu thuộc phức hợp loài Colletotrichum gloeosporioides (tương đồng 98,00% – 99,82%). Công trình khẳng định C. scovillei là loài gây hại chủ yếu trên ớt chỉ thiên tại khu vực khảo sát, đồng thời nhấn mạnh vai trò quyết định của chỉ thị phân tử trong công tác giám định và nghiên cứu nấm bệnh cây trồng.