Chương 1. TONG QUAN TÀI LIEU 1. Giới thiệu về ớt 1. Đặc điểm sinh vật học của trai ởf Cây ớt có thể sống và cho trái trong nhiều năm, là cây ưa nhiệt, phát triển thuận lợi ở các vùng cận và nhiệt đới.
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây từ 25-28°C vào ban ngày và ban đêm là khoảng 18°C. Ở thời ky ra hoa đậu trái thì độ âm không khí đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất lượng trái. Độ âm của đất cũng tác động lớn đến chất lượng trái, nếu thấp hơn 70% thì trái bị cong va vỏ trái không mịn, nếu cao hơn 80% làm bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc và khó kết trái [18|. Ớt là cây trồng dễ thích nghỉ với các loại đất trồng, dễ phát triển và cho năng suất cao.
Cây ớt chịu được điều kiện che rop dén 45%, nhưng che rợp nhiều hơn làm cho ớt chậm trổ hoa và khó đậu quả, rụng nụ. Cây ớt thường được gieo trồng vào 2 vụ chính. Vụ đông xuân, gieo hạt từ tháng 10 đến tháng 2, trồng tháng 1-2 và thu hoạch vào tháng 4-5, hay tháng 6-7. Vụ hè thu, gieo hạt thang 6-7, trong tháng 8-9, thu tháng 1-2.
Ngoài ra có thể trồng ớt trong vụ xuân hè: gieo hạt tháng 2-3, trồng tháng 3-4, thu tháng 7-8 [1], [14]. Rễ: ớt là cây có rễ cọc, khi phát triển sau hơn 1 tháng một số rễ chùm từ rễ cọc phát triển nhanh, điều này giúp bộ rễ của ớt khỏe và lay được nhiều dinh dưỡng cho cây phát triển. Thân: Ớt là cây bụi thân gỗ 2 lá mam, thân thường mọc thăng, đôi khi có dạng thân bò. Khi cây già phần gốc chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh.
Cây cao trung bình 35-65 em, có giống cao 125-135 em, chiều cao thân thay đổi tùy theo điêu kiện canh tác và giông. Lá: Ớt có lá đơn mọc xoăn trên thân chính, có giống mọc chùm hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá có màu xanh nhạt hoặc đậm. Hoa: Ớt có hoa lưỡng tính, mọc đơn hoặc thành chum 2-3 hoa. Hoa nhỏ, dai hoa hẹo và nhọn.
Tràng hoa có 6-7 cánh màu trăng hoặc tím, phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật. Hoa có thé tự thụ phan hay thu phan chéo nhờ côn trùng. Quả: Có hình dạng rất phong phú từ hình cầu đến hình nón, bé mặt quả có thé phăng hoặc gon song, có khía hay nhẫn. Khi chín màu quả có thể xanh, đỏ, đen hoặc vàng cam [2].
Vách ngăn Khoang quả Thịt quả Hạt 1. Thành phan bóa hoc và giá trị của ot Từ lâu ớt đã là một phân trong âm thực của loài người, là một loại gia vi tạo nên vi cay nóng và mau sắc đặc biệt cho các món ăn. Do đó, ớt được trồng và sử dụng rộng rãi trên thé giới. Bên cạnh việc cung cấp một lượng khoáng chất và vitamin can thiết, nhiều công dụng về y hoc của ớt cũng được ứng dụng phô biến trong đông y.
Thanh phan hóa học của ớt thay đối theo giống, mùa vu, điều kiện khí hậu. Thành phần hoá học của ớt được thể hiện trong bang 1. Thanh phan hóa học cua ớt trong 100g ăn được [1] Thanh phan | Hàm lượng | Thành phan | Hàm lượng Độ âm 85/78 P 80mg Protein 2,9g Fe 12mg Chat béo 0.6g Na 6,5mg Chất khoáng 1,0g K 2,7/mg Cacbonhydrat 3,0g S 34mg Chat xo 68g Cu 155mg Thiamin 0,19mg Ca 30mg Riboflavin 039mg Vitamin A 292mg Axit oxalic 67mg Vitamin C IIlmg Trái ớt có một lượng nước khá cao (85,7%). Trong quả ớt có chứa nhiều chất hoá học bao gom chất dầu dé bay hơi, dầu béo, capsaicinoit, carotenoit, vitamin, protein, chất sợi và các nguyên tố khoáng chất.
Nhiều thành phan trong qua ớt có giá trị dinh dưỡng quan trọng, làm gia vị, mùi thơm và màu sắc. Quả ớt giúp làm giảm nhiễm xa và cholesterol, giàu vitamin A va C, nhiéu khoang kali, axit folic va vitamin E [77]. Trong thịt qua ớt có chứa một lượng capsaicin (CjgH27NO3), là một loại alkaloid có vi cay, tạo cảm giác ngon miệng khi ăn, kích thích quá trình tiêu hóa, chất này có nhiều trong thành phần giá noãn và biểu bì hạt. Sự thay đổi của capsaicin ở từng giống khác nhau đã tạo nên sự cay nông khác nhau.
Về y học, hoạt chất capsaicin giúp cơ thể phòng ngừa được sự hình thành các cục máu đông, làm giảm dau trong nhiều chứng viêm. Gần đây người ta còn chứng minh được vai trò của ớt ngăn cản các chất gây ung thư [1]. Một số loại ót phổ biến Cây ớt (Capsicum sp.) thuộc họ cà (Solanaceae), chi Capsicum. Có hai nhóm ớt pho biến là ớt cay (Capsicum frutescens L.) và ớt ngọt (Capsicum annuum L.
Trong số các cây trồng thuộc ho cà (Solanaceae), cây ớt có tam quan trong thứ hai chỉ sau cây cà chua. Quả ớt có nhiều tên gọi khác nhau như Lạt Tiêu, Lạt Tử, Ngưu Giác Tiêu, Hải Tiêu [76], [13]. Chi Capsicum bao gồm khoảng 20 - 27 loài, 5 trong số chúng được thuần hoá là C. pubescens, và được trồng ở nhiều nơi trên thé giới.
Trong số 5 loài Capsicum được trồng, C. annuum là một trong những loài được trồng nhiều nhất trên thé giới kế tiếp là C. Ot cay (chilli): Được trồng phố biến ở An Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác va được sử dụng làm gia vi. Ot cay là cây có giá trị kinh tế và trồng pho biến hơn ớt ngọt [70].
Ở nước ta, có khoảng 50 giống ớt khác nhau có tên gọi rất khác nhau tùy hình dạng hay đặc tính như ot sừng trâu, ớt cựa gà, ớt cà, ớt chỉ thiên, ớt hiểm, ớt ngọt. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trong nước và trên thé giới 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trong nước Ở nước ta hiện nay ớt được trồng ở khắp ba vùng Bắc — Trung — Nam. Tuy nhiên tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung như: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một số tỉnh Miễn Bac như Hà Nội, Thái Bình, Hải Hưng, Vĩnh Phúc.Gần đây, diện tích trồng ớt đã được mở rộng đến các tỉnh Tây Nguyên và phía Nam như đồng băng sông Cửu Long và miền Tây Nam Bộ [14].
Các loại ớt được trồng pho biến là ớt sừng trâu, ớt chỉ thiên, ớt hiểm, ớt chuông,. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan trong nửa đầu tháng 9 năm 2007, kim ngạch xuất khẩu ớt của cả nước đạt trên 450 nghìn USD. Hiện nay, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu ớt cao nhất với 40% tổng kim ngạch xuất khẩu, tương đương với trên 180 nghìn USD. Tiếp theo đó là các thị trường Singapore và Đài Loan với kim ngạch xuất khâu lần lượt chiếm 27,0 và 20,5%.
Đề có thể cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu cân quan tâm đến vấn đề canh tác ớt chuyên canh các vùng trồng ớt. Một số vùng trồng ớt chuyên canh được hình thành như Quynh Phụ (Thái Bình) với diện tích 1.200 ha, Đại Lộc (Quảng Nam) với 202 ha, Phù Mỹ (Bình Định), Phù Cát (Bình Định) với 253 ha, Bố Trạch (Quảng Bình) với 350 ha, một số huyện Châu Đốc, Chợ Mới, An Phú.146 ha và một số tỉnh thành khác.Việc hình thành các vùng chuyên canh, tăng cường đầu tư thâm canh, kiểm soát dịch bệnh đặc biệt là các bệnh hại ớt sau thu hoạch có ý nghĩa trong việc nâng cao giá trị kinh tế của cây ớt. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thể giới Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế cao, cây ớt ngày càng được trồng pho biến và ưa chuộng trên thế giới. Trong họ cà (Solonaceae), ớt có tầm quan trọng thứ 2 chi sau cà chua.
Ngày nay ớt được trồng rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước châu Mỹ và một số nước châu A như: Trung Quốc, An Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Indônêxia, Malaixia. Năm 2006, ớt được sản xuất trên thé giới là khoảng 25,9 triệu tan cho ớt tươi và 2,8 triệu tấn ớt khô. Tính đến năm 2007 tổng sản lượng ớt của cả thế giới là 26. Theo FAOSTAT năm 2008 ớt (Capsicum sp.) được xếp hạng là thực vật quan trọng đứng thứ tư thế giới [77].
Hiện Trung Quốc vẫn đang là nước dẫn đầu trong việc sản xuất và tiêu thụ ớt, sản lượng ớt của Trung Quốc luôn đứng thứ nhất trên thế giới trong nhiều năm liên, tiếp theo là Mexico và Indonesia Sản lượng ớt của một số nước trên thế giới được thé hiện qua bảng 1. Sản lượng ót trên thé giới gôm ớt cay và ớt chuông (Đơn vị: tấn ) Quốc gia 2004 2005 2006 2007 Trung Quoc | 12.000 Tho Nhi Ky 1.921 Tay Ban Nha 1. Cac bệnh sau thu hoạch trên ot Theo cầm nang chuẩn đoán bệnh cây ở Việt Nam năm 2009 được xuất bản bởi Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR) thong ké 6 bénh pho biến trên ớt gôm: bệnh thối rễ Phytophthora, thối sốc, héo vi khuẩn, thán thư, bệnh virus, sưng rê tuyên trùng. - Bệnh thối rễ Phytophthora do nắm Phytophthora capsici, triệu chứng chính là thoi rễ và héo [4].
Triệu chứng của bệnh thường xuất hiện muộn thông qua hiện tượng các lá già bị rụng. Tiếp theo là sự lây nhiễm nam sang các lá non và cuối cùng là cây bị chết. Trong nhiều trường hợp, chỉ có một cành hoặc một phần của cây có triệu chứng héo [13]. - Bệnh thối gốc hay bệnh héo rũ gốc mốc trang (Sclerotium rolfsii): Triệu chứng điển hình của bệnh được thể hiện rõ nhất từ khi cây ra hoa - hình thành quả - thu hoạch.
Nam xâm nhiễm vào phân thân cây sát mặt đất, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu tươi hơi lõm, về sau vết bệnh lan rộng có thé dài tới vai centimet bao quanh thân, sốc, lan rộng xuống tận cô rễ dưới mặt đất. Mô vết bệnh dan dan bi phân hủy, các lá dưới gốc héo vàng và rụng trước, sau đó lan lên các lá phía trên, cuối cùng dẫn tới các lá héo rũ, cây khô toàn thân. - Bệnh than thư theo Vũ Triệu Mân là bệnh gây hại trên ớt do nam Colletotrichum sp. Bệnh có thê hại thân, lá, quả và hạt nhưng hại chủ yếu trên quả vào giai đoạn chín.
Ban đầu vết bệnh là một đốm nhỏ, hơi lõm, ướt trên bề mặt vỏ quả sau 2-3 ngày kích thước vết bệnh có thể lên tới lem đường kính. Vết bệnh thường có hình thoi, lõm, phân ranh giới giữa các mô bệnh là một đường màu den chạy dọc theo vết bệnh. Trên bề mặt vết bệnh có những cham nhỏ là đĩa cành của những nắm gây bệnh.