Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề liên kết DN và ND ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Cụ thể, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài theo các nhóm vấn đề với những tài liệu và công trình nghiên cứu điển hình như sau: 1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về liên kết kinh tế: Có nhiều công trình nghiên cứu về liên kết kinh tế ở các khía cạnh khác nhau với những hướng tiếp cận sau: - Tiếp cận liên kết kinh tế dưới góc độ thể chế, coi liên kết kinh tế là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các tổ chức kinh tế, các nền kinh tế lại với nhau do sự phát triển của lực lượng sản xuất và sở hữu. Trong nghiên cứu “Lý thuyết về liên kết kinh tế” của mình Béla Balassa cho rằng liên liên kết kinh tế về bản chất, là một thể chế kinh tế (economic institution), xét ở giác độ vĩ mô của nền kinh tế liên kết kinh tế là một hình thức của quan hệ tổ chức quản lý, thuộc phạm trù quan hệ sản xuất [65].
Cũng tiếp cận theo hướng này nhưng các nhà kinh tế học cổ điển như A.và cả những nhà kinh tế học tân cổ điển sau này như A.Mill chỉ đề cập đến thể chế thị trường chứ chưa chú trọng nghiên cứu sâu về thể chế kinh tế. - Hướng tiếp cận coi liên kết kinh tế là hiện tượng tất yếu khách quan do chi phí giao dịch tăng lên, là một hình thức của quản trị thị trường dưới chủ nghĩa tư bản. Tiêu biểu cho trường phái này chính là các nhà kinh tế học phương tây Williamson, Douglass C., Kirsten, Minna Mikkola… Tác phẩm “Institution, institutional change and economic performance” (Thể chế, thay đổi thể chế và hiệu quả kinh tế) của Douglass C.North (1998) cho rằng liên kết kinh tế có các đặc điểm chủ yếu là tính độc lập về sở hữu, quan hệ lâu dài, tin cậy lẫn nhau, chia sẻ lợi ích, gánh nặng và thực hiện công bằng. Chi phí giao 11 luan an dịch tăng lên là do giao dịch của con người ngày càng mở rộng, trở nên phức tạp, gia tăng rủi ro, thất bại [68] Theo Williamson trong nghiên cứu của mình cho rằng có 3 loại cơ chế quản lý nhằm thay đổi mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các đối tác mậu dịch: thị trường giao ngay, hợp đồng dài hạn (Tức liên kết kinh tế) và quan hệ thứ bậc (Tức kế hoạch tập trung) [82].
Theo xu hướng tiếp cận của Williamson , trong nghiên cứu “The boundaries of the firm: why do sugar producers outsource sugarcane production” (Ranh giới của công ty: Tại sao các nhà sản xuất đường sử dụng nguồn sản xuất mía đường) của Sartorius, K. Trong nghiên cứu của mình Minna Mikkoela cho rằng liên kết kinh tế được đặt ở vị trí trung gian giữa thị trường tự do và hợp nhất dọc đầy đủ (fulled vertical integration) tức kế hoạch hóa tậptrung. Nghiên cứu “Coordinative structures and development of food supply chains”(Cơ cấu phối hợp và phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm) của Minna Mikkoela đã chỉ ra bốn cơ chế quản lý: Quan hệ thị trường, quan hệ thứ bậc (hay quan hệ quyền lực), quan hệ mạng lưới (network) và quan hệ xã hội. Như vậy liên kết kinh tế được đề cập đến dưới nhiều thuật ngữ khác nhau: hợp đồng dài hạn, quan hệ mạng lưới, hợp đồng đặt hàng chi tiết kỹ thuật, đồng minh chiến lược hoặc hợp tác chính thức [73].
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu của Béla Balassa (1961), “The Theory of Economic Integration”, [65]; công trình nghiên cứu của Sykuta, Michael and Joseph Parcell (2003), “Contract Structure and Design in Identity Preserved Soybean Production”, [77]…. Tuy hai trường phái trên khác nhau về cách tiếp cận nghiên cứu liên kết sản xuất nhưng không hoàn toàn mâu thuẫn nhau vì sự cần thiết phải thay đổi thể chế giao dịch xuất phát từ sự gia tăng qui mô, tần số giao dịch, tài sản chuyên dùng do chuyên môn hóa sâu và mở rộng phạm vi giao dịch trong điều kiện lực lượng sản xuất phát triển làm cho chi phí giao dịch tăng. Chính sự thay đổi này của thể chế 12 luan an giao dịch đã phản ánh sự biến đổi của lực lượng sản xuất. Sự biến đổi đó của lực lượng sản xuất thúc đẩy quá trình chuyển đổi đổi sở hữu, hình thành tập trung hóa, xã hội hóa tổ chức sản xuất ngày càng lớn về qui mô, chặt chẽ về tổ chức.2 Nhóm công trình nghiên cứu về nông nghiệp công nghệ cao: Để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa thì chúng ta phải phát triển nông nghiệp dựa trên nền tảng ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất là CNC.
Nông nghiệp CNC hay (High-technical agriculture) còn gọi là Nông nghiệp năng suất cao (Productive Agriculture); Nông nghiệp sinh học, hữu cơ, sinh thái (Biological, organic, ecological Agriculture) [27]. Trong thực tế hiện nay, NNCNC đang được nhắc đến dựa trên hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất dựa trên lý thuyết của J. Von Thunew, (1986) thì NNCNC là nơi hội tụ các thành tựu tiên tiến nhất về công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ thông tin và tự động hóa trong một hệ thống nông nghiệp tập trung nhằm tạo ra một quy mô sản xuất và trình diễn công nghệ có tác dụng tích cực tới chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Quan điểm thứ hai dựa trên quan điểm kết hợp giá trị truyền thống và giá trị thực tiễn của Trung Quốc cho rằng: Nông nghiệp hiện đại, CNC là nơi tập hợp các tiến bộ kỹ thuật mới về sinh học, hóa học, cơ khí, tự động kết hợp với kinh nghiệm truyền thống tốt để tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế cao [27].
Trong nghiên cứu “Cầu nối giữa nông nghiệp và thông tin công nghệ. Đổi mới và cấp thiết hướng tới một cuộc cách mạng xanh mới” của Mike Baroni (2011) thuộc học viện quốc gia Hoa kỳ cho rằng việc ứng dụng CNC, thích ứng và thường xuyên nắm bắt thông tin về phát triển công nghệ sẽ là bước đột phá làm cho ngành nông nghiệp ngày càng phát triển theo hướng hiện đại với năng suất cao, chất lượng tốt, tiêu chuẩn đẳng cấp [74]. Những nghiên cứu của Kunznet, 1984; Haque, 1977; WB, 1993 có chung quan điểm là để phát triển nông nghiệp hiện đại nhất thiết phải dựa vào khoa học công nghệ tiên tiến. Để phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả thì cần tập trung thực hiện cơ khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng CNC trong các khâu của quá trình sản xuất như lai tạo giống mới, bảo quản nông sản, chế biến nông sản…Bên cạnh đó 13 luan an phải đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và hiện đại hóa trang trại để có năng suất lao động và năng suất sử dụng nguồn lực cao [72].
Nhóm công trình nghiên cứu về liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp Trong một nền kinh tế hội nhập quốc tế sâu rộng, sự liên kết DN và ND trong phát triển nông nghiệp rất cần thiết để giúp ND gắn kết với các yếu tố thị trường. Qua liên kết với DN, ND có thể tiếp cận khoa học công nghệ đưa vào sản xuất, mua vật tư đầu vào với khối lượng lớn có giá rẻ hơn, bán nông sản với giá cao hơn, chi phí giao dịch thấp hơn, cải thiện tính cạnh tranh và quyền điều đình trả giá (bargaining power). Về DN sẽ có thị trường đầu vào ổn định, đảm bảo chất lượng, tập trung được đất đai để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp theo định hướng kinh doanh của DN. Nghiên cứu về liên kết DN và ND phát triển nông nghiệp hiện nay có những hướng tiếp cận sau: - Hướng tiếp cận coi việc liên kết giữa DN và ND là một sự sắp xếp mang tính thể chế gắn liền với việc đề xuất giải pháp, cơ chế và chính sách Liên kết DN và ND về bản chất là một sự sắp xếp mang tính thể chế mà tính ưu việt của nó là kết hợp được những ưu thế của đồn điền (kiểm soát chất lượng, sự liên kết sản xuất và tiếp thị) với những ưu thế của sản xuất tiểu nông (khuyến khích lao động, đầu tư cẩn trọng) chính là kết luận mà Glover đưa ra trong nghiên cứu của mình.
Glover đã không trực tiếp đề cập đến vấn đề liên kết kinh tế giữa DN chế biến với ND, mà chỉ tập trung bàn về hình thức biểu hiện của nó là sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng (contract farming- CF) [69]. Trong nghiên cứu “Sản xuất nông nghiệp cần một chính sách hỗ trợ ở Indonessia” của Darmawan (2014) đã chỉ ra những khó khăn trong quản lý sản xuất, chế biến và tiêu thụ trong thị trường nông nghiệp ở Inđônêsia là do không có sự quản lý của chính quyền, thiếu thông tin thị trường, thiếu các quy định về quản lý, thiếu chính sách phát triển. Darmawan cũng đưa ra một số giải pháp để phát triển sản xuất nông nghiệp ở Inđônêsia đó là công tác khuyến nông đối với nông nghiệp cần được quan tâm được chú trọng hơn; chính quyền địa phương cần phải xây dựng hệ thống dịch vụ thông tin thị trường về nông nghiệp, dịch vụ 14 luan an này cung cấp thông tin về giá hàng ngày cho ND, tư thương và người tiêu dùng. Trong nghiên cứu của mình Jonathan Coulter và cộng sự, (1977) đã chỉ ra sự hợp tác giữa ND thường hoạt động tốt nhất khi nhóm ND được kết nối với thị trường đầu vào và đầu ra thông qua hợp đồng.
Và sự hợp tác này có xu hướng thành công hơn khi có các chính sách công khuyến khích hoạt động liên kết giữa ND và ngành kinh doanh nông sản. - Hướng tiếp cận coi việc liên kết DN và ND tạo ra chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp Khi tiến hành liên kết DN và ND ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở nhiều nước phát triển đã mang lại kết quả là đã điều chỉnh được chuỗi cung cấp kết nối chặt chẽ hơn chính là nhận định của Reardon, T., Barrett, CB, (2000), trong nghiên cứu “Agroindustrialization, globalization, and international development: An overview of issues, patterns, and determinants” (Nền nông nghiệp, toàn cầu hoá và phát triển quốc tế: Tổng quan về các vấn đề, mô hình và các yếu tố quyết định) [75] Patrick (2005) trong nghiên cứu của mình cũng đã khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay liên kết giữa DN và ND trong sản xuất và tiêu thụ nông sản là rất cần thiết.