Chương 1: Tổng quan về mui trằng thủy sản và phat triển bên vững hoạt động nuôi rằng thấy sản "Chương 2: Thực trang phát triển của hoạt động nuôi trằng thuy sản huyện Van Dan ~ Tinh Quảng Ninh Chương 3: Nghiên cửu đề xuất một số giải pháp phảt tiễn bén vững hoạt động mỗi trằng thuỷ sản luyện Vân Bin — Tinh Quảng Ninh dén năm 2020 CHUONG 1: TONG QUAN VE NUÔI TRÔNG THỦY SAN VÀ PHÁT TRIEN BEN VONG HOAT BONG NUOI TRONG THUY SAN 1,1 Vai trò của ngành Thủy sản trong nền kinh tế quốc dân ‘Vigt Nam vẫn là một nước nông nghiệp va trong đó ngành thuỷ sản đóng một vai trò quan trong trong nền kinh tế quốc dân, Với lợi thể về điều kiện te nhiên, được thiên nhiên wu đãi nên nước ta có một tiém năng lớn trong khai thác vi nuôi trồng thuỷ sản. Cụ thể: có một bờ n dai hơn 3260 km với nhiề sông, ngồi, lạch, dim phả thuận lợi cho cả môi thuỷ sản nước ngọt và nước mặn, lợ. Chính vì điều này mà qua trong nhiều năm phát triển ngành kinh tế thuỷ sản (sau đây ngắn gọn là ngành thủy sản) đã tro thành một trong những ngành kinh tế quan trong, gồm nhiều phân ngành như: khai thác, nuôi trồng, chế biển, các ngành công nghiệp phụ trợ như công nghiệp đóng sửa tu thuyển, cơkhí, đột lưới, bao bi, kho ting, vận chuyển. Phát triển ngành thuỷ sin sẽ gốp phin quan trong trong ting trưởng của toàn ngành nông nghiệp và toàn nén kinh & nói chung.
"Ngành thay sản đồng một vai trò quan trong, cụ thé như sau: 3) Cung cấp sản phẩm dinh dưỡng chất lượng cao; Các sản phẩm thủy sản xét về mặt dinh dưỡng là sản phẩm bổ dưỡng, giàu đạm, dễ tiêu hoá, phủ hợp với sinh lý đỉnh dưỡng ở mọi lứa tuổi, không chứa chất béo nên rit tốt cho cơ thé, Trong xã hội hiện đại, với cuộc sống tip nặp, xô bổ, người tathường có thối quen ăn những đỗ ăn nhanh TNhĩng đồ ăn này không hé 6 gi cho cơ th, Vì vay, một bữa ăn giàu đạm với ci tôm và các loại hải sản khác bên cạnh gia đình và người thân thật sự là có ý nghĩa biết bao. ing những nước có nỀn kinh tế phát triển, mức sống và thu nhập của người dân cao thì người ta thường hướng vào loại thực phẩm bé dưỡng này. 5) Tha hút bảng van lao động dư thờa, nông nhân ở nông thôn gp phần x08 đối giảm nghèo. nâng cao đời sống nông dân và làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
Góp phần chuyển địch mạnh mé cơ ấu kinh tẾ nông nghiệp, nông thôn 6) Ngành thuỷ sản có một vai trỏ quan trong trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, Bởi vi, ngành thuỷ sản cũng là một ngành sản xuất vật chất mà sản phẩm của. nó là ắc sinh vật sống trong mdi trường nước, đỏ là một trong những loại thực phẩm, làm thức ăn phục vụ cho đời sống nhân dân, Do đó phát triỂn ngành thay sản không 6 những đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mi còn phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu thu được ngoại tệ cho đất nước, đ) Ngành thủy sản và thương mại quốc tế: Ngành thuỷ sản của nước ta đi lên từ nghề cá nhân dân, với những hình thức sơ khai buổi đầu là đánh bất thuỷ sản nhằm mục dich phục vụ cho nhu cầu của chính bản thân ngự dân. Va ngày nay khi đất nước ta đã hoà mình vào nền kinh tẾ quốc ế thì ngành thuỷ sin cũng có nhiễu cơ hội mới dé phát triển, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu thuỷ sản.Ngành thuỷ sản phát triển thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế ca đắt nước. Bởi vì xuất khẩu thuỷ sin sang thị trường các nước trên thé giới, không những giúp ta thu được ngoại tệ cho đất nước mà hơn thé nữa nó sẽ mở ra một cơ hội cho đất nước hoà mình cùng nhịp điệu sôi động của thể giới, mở ra mỗi quan hệ hop tác, giao lưu giữa các nước trong khu vực và trên thể giới “Có thể thấy rằng sự mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản đã phân mở ra những con đường mới và manglại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh t Việt Nam hội nhập ngày cảng sâu rộng hơn vào khu vực và trên thé giới 1.
Phát triển ban vững hoạt động nuôi trồng thủy sin 1. Khái niệm phát triển bên vững Dé duy trì sự sống của bản thân va tiếp tục phát triển của nòi giống, ngay tir thời kỳ nguyên thủy của lịch sử nhân loại, con người đã có những hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biển thành những vật phẩm cần thiết cho mình, hoặc để cái thiệ những điều kiện thiên nhiê tạo nên môi trưởng sống thích hop với mình. lúc tiến hành những hoạt động đó, con người ít nhiều đã biết rằng mọi can thiệp vào tài và môi trường luôn luôn có hai mặt lợi, hại khác nhau đối với cuộc sống trước mắt và lâu dai của con người. Một số kiến thức và biện pháp thiết thực để ngăn ngừa những tác động thái quá đối với môi trường đã được đúc kết và truyễn đạt từ thể hệ này qua thé hệ khác đưới dạng những tin ngưỡng và phong tue.
Trong các xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật sin xuất Hễ bộ hơn nhiề on người đã tác động mạnh mẽ vio ti nguyên thiên nhiên và mỗi trường, can thiệp một cách trực iếp và nhiều khi thô bạo vào các hệ thiên nhiên. Dé “chế ngự” thiên nhiên, con người nhiều khi đã tạo nên. những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người với các quá trình điễn biến của tự nhiên. Để đạt tới những năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp, con người đã chuyển đổi các dòng năng lượng tự nhi, cứ nối các mắt xích.
thức ăn vốn có của thiên nhign, đơn điệu hóa các hệ sinh thải, sử dụng năng lượng bổ' sung to lớn dé duy tì những cân bằng nhân tạo mong manh. Đặc biệt là trong nữa cuối thé kỹ 20, sau những năm hồi phục hậu quả của thể chiến lần thứ hai, hằng loạt nước tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công nghiệp hóa, nhiều nước mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có điều kiện phát triển mạnh mẽ nén kính tế của mình. Một số nhân tổ mới như cách mạng khoa học và kỹ thuật sự bằng nỗ dân số, sự phân hóa các quốc gia v8 thu nhập, da tạo nên nhiễu nhu cầu và khả năng mới vỀ khi thác tài nguyên và can thiệp vào môi trường, Trật tự bắt hợp lý về kinh tế thểgiới đã tạo nên hai loại 6 nhiễm: “6 nhiễm do thửa thai” tại các nước tw bản chủ nghĩa phát triển và: “O nhiễm do đối nghèo” tại các nước chậm phát triển về kinh tế Có thể nổi ring, mọi vẫn đề vé môi trường đều bắt nguồn từ phát triển. Nhưng con người cũng như tắt cả mọi sinh vật khác không thể ngừng tiến hóa và ngừng sự phát triển của mình.
Đó là quy luật của sự sống, của tạo hóa mà vạn vật đều phải tuân theo một cách tự giác hay không tự giác. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển lả phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cục tởi môi trường. Phát tin đương nhiên sẽ biển đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn đầy đủ các chức năng: đảm bảo không gí sing với chất lượng tốt cho con người, cung cấp cho con người cá loại tài nguy thiết ti xử lý các ph tải của hoạt động của con người, giảm nhẹ ác động bắt lợi cũa thiên tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hóa, khoa học của loài người. Phát u in bền vững là phát tiển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mã không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chế, bài hoa giữa tăng trưởng kính tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo về mỗi trường (Lait bio vệ môi trường, 2014), 1.
Vai trò của phát triển ban vững. Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có mồi quan hệ khang khít, chặt chế, tác động lẫn nhau trong thé cân đối thống nhất: Môi trưởng tự nhiên (bao gồm cả tải nguyên thiên nhiền) cung cấp nguyên liệu và không giam cho sản xuất xã hội, Sự giảu nghềo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tai nguyên: Rất nhiễu quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại. Có thể nói, tải nguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung (trong đó. có cả tải nguyên) có vai trò quyết định đổi với sự phát triển vững kinh tế - xã hội (KT-XH) ở mỗi quốc gia, vùng ãnh thổ, địa phương vi Thứ nhất, môi trường không những chỉ cung cấp "đầu vào” mà còn chứa đựng "đầu quá tình sản xuất và đồi sống Thứ hai, môi trường liên quan đến tỉnh ôn định và ben vũng của sự phát triển KT-XH.
“Thứ ba, môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dn tộc.3, Một số tiêu chí về tinh bền vững kinh tế - xã hội và các phương thức phát min Phát tiển bền vững là mục tiêu phát triển của các quốc gia trên thé giới. Tuy nhiên, làm thé nào để chúng ta có thể đánh giá được sự phát tiển của một quốc gia là bền vũng hay không bền vững. Độ bn vững của sự phát triển thường được đảnh giả thông qua các tiêu chí về tinh ban vững kinh tế - xã hội và các phương thức phát triển. 3) Bin vững về kính tế Bén vững về kinh tế có thể được đánh giá thông qua giá trị và mức ổn định của các chỉ sé tăng trưởng kinh tế trayén thông như: tổng sản phim trong nước GDP, tổng sản phẩm quốc gia GNP, GDP hay GNP bình quân đầu người, mức tầng trường GDP, cơ cấu GDP.
‘Tang trưởng GDP thể hiện lượng tăng của GDP trong một năm cụ thé so với GDP năm trước, tính bằng %4. Một quốc gia phát trién bền vững về kinh tế phải bảo đảm tăng trường GDP và GDP bình qu đầu người cao. Các nước thunhập thấp có mức tăng trường GDP vào khoảng 5° Nếu có mức tăng trưởng GDP cao nhưng không GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn xem là chưa đạt tới mức bền vững. Ngoài ra, nén kinh tế sia một quốc gia thường gồm các lĩnh vực Khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp và dich vụ.