Chương 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới Trên thế giới, trải qua một thời gian dài trong việc nỗ lực bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng người ta đã đi tới một nhận định rằng: Các kết quả nghiên cứu về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đã nhận định: “Thành công thường gắn với những mô hình nhỏ và độc đáo cliứ không phải là những mô hình và công thức lớn lao; với những hành động phân cấp chứ không phải là sự kiểm tra của trung ương; với những thiết kế thích hợp với từng địa phương chứ không phải là những mô hình khoa học kỹ thuật phức tạp; với sự tham gia tích cực của người dân chứ không phải là tài trợ cho họ về tài chính. Việc quốc hữu hóa rừng hoặc tư nhân hóa rừng công cộng có thể cướp đi những diện tích tài nguyên rừng của người dân nghèo địa phương, nguồn sống và có khi đó chính là nguồn sinh tồn của họ”. [21, T3] Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài người. Cho đến nay lâm nghiệp cộng đồng đã trải qua ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: ;;@# lo: những người bên ngoài cuộc xác định vấn đề và dé ra quyết định để giỏi ¿uïết vấn đề.
Kết quả đạt được đều không đáng khích lệ, sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống. Rất ít các cộng đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui. - Giai đoạn 2: người ngoài cuộc xác định van dé và dé ra phân lớn quyết định, có sự tham khảo ý kiến của cộng đông. Kết quà là những người ngoài cuộc đã bắt đầu nhận thức được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn.
- Giai đoạn 3: người ngoài cuộc đóng vai trò hỗ trợ và thúc đây, cộng đông là những người tích cực xác định van dé va dé ra các giải pháp. Cách làm nảy đã mang lại những kết quả đáng khuyến khích làm cho người dân trong cộng đồng tự nhận thức được vấn đề và chủ động trong việc đề ra các giải pháp mà họ có thể thực hiện được. Trên thực tế thế giới cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thẻ chế, tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý dựa vào rừng cộng đồng. Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Ở một số nước trên thế giới như Án Độ, Thái Lan đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý các khu rừng bảo vệ. Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tai nguyên rừng thường rất thành thạo khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc tham gia quản lý khu bảo tồn. Với những đặc điểm độc đáo về kinh tế, văn hóa và thể chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý sử dụng tài nguyên đã mang lại những hiệu quả to lớn trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Một thực tế ruỳ clyun¿ ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân cư không phải là sâu (ó tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng.
Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng, khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đây lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng, thúc day cho sự phát triền của các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng. Khái niệm về quản lý rừng bền vững đã được hình thành từ đầu thế kỷ thứ 18. Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục. Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế-xã hội quản lý rừng bền vững đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là quản lý rừng bền vững trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.
Quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm aghiệp đối với sự phát triển. Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại với tương lai, và được xem như tổng hợp của hoạt động sản xuất bao gồm bảo vệ nguồn nước, đất, các khu văn hóa cũng như cây rừng cho gỗ. Quản lý rừng cộng đằng ở châu Á Tại châu Á, rừng được coi là một trong những tài nguyên công cộng quan trọng nhất, quản lý rừng tập thể bàn tới mọi phương thức quản lý rừng dựa trên cơ sở nhóm. Nó gồm bất cứ tình huống nào, trong đó trách nhiệm quản lý đã được giao cho một nhórm hoặc tập thẻ đặc biệt như dòng họ, bộ tộc hoặc đăng cấp (quản lý thôn xã), một làng bản hoặc cộng đồng.
Quản lý rừng tập thể ban téi cach sip xép theo đó một số nhóm người nhất định sẽ nắm lấy một số quyè» vẻ đất và cây rừng cùng với những sản phẩm của chúng. Trách nhiệm quản lý rừng được giao chung cho một nhóm địa phương. Như vậy, quản lý rừng tập thể dựa trên cơ sở sở hữu công cộng hoặc quyền lợi được giao cho những tổ chức chung, thường gắn với những nhóm nhỏ như thôn bản hoặc đòng họ [21,T28]. Tại Án độ và Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh.
Ở Nepan khi tìm hiểu tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét chung và chúng thường có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ. Các chỉ tiêu về quy chế tỏ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những người sử dụng là phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản lý rừng bản địa. Và những hệ thống quản lý rừng bản địa này chỉ mới được xây dựng từ năm 1950. Từ năm đó tới nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh hưởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay.
Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhưng việc đó đã thất bại. Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho chính những người sử dụng chúng ở thôn bản. Amold (1986) [21] đã trình bày những tiến bộ mà chính phủ Nepan đạt được khi tổ chức lâm nghiệp cộng đồng tại vùng đồi của Nepan thông qua dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng qua báo cáo “Quản lý tập thể rừng vùng đồi ở Nepan: Dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng” Mục tiêu của dự án này là tăng thêm nguồn cung cấp củi, thức ăn gia súc, cỏ và gỗ thông qua việc trao trách nhiệm rộng hơn về quản lý và bảo vệ rừng cho các cộng đồng địa phương. Tài liệu này có nói tới một sáng kiến của Nepan đã đưa ra một khuôn khô có khả năng vận: đụng được để phát triển các hệ quản lý rừng sản xuất địa phương thích hợp với sác lu cầu hiện nay, khuôn khổ đó xây dựng trên các truyền thống và phương thức địa phương để quản lý rừng cộng đồng.
Số liệu điều tra cho thấy rằng rừng được nhiều sự ảnh hưởng tốt khi có sự quản lý tích cực của người sử dụng địa phương. Rừng được cải thiện rõ khi có sự kiểm tra thu hoạch của địa phương do các cộng đồng đề ra những quy định thời gian và các diện tích có hạn chế và các công cụ được phép sử dụng, ngược lại rừng tiếp tục bị thoái hóa khi chỉ có chính phủ đề ra các kiểm tra theo thường lệ như lệ phí mà người sử dụng phải trả và bài cây để chặt hạ. Mặc dù những kinh nghiệm của chương trình này đến nay vẫn còn hạn chế nhưng những việc đã làm được của chương trình này cũng coi là một sự khởi dau dang phan khởi. Hobley (1987) Lâm nghiệp cộng đồng không nên được định nghĩa bằng quy mô hoặc sản phẩm cuối cùng mà ở chỗ là quyền đề xuất quyết định nằm ở đâu.
Sự tham gia và kiểm tra của dân trong việc thành lập, duy trì, hưởng lợi và phân phối các lợi ích là những lợi ích tiên quyết cho một chương trình lâm nghiệp cộng đồng đúng đắn. Kết quả điều tra cụ thể tại hai thôn bản của Nepan thông qua Dự án lâm nghiệp song phương giữa Nepan và Australia là dân bản luôn luôn coi rừng là tài sản sở hữu của cộng đồng, tuy nhiên lâm nghiệp cộng đồng muốn có được những thành công thì cần phải có sự thay đối sâu sắc về mặt xã hội tại Nepan.C và Hobley (1989) [21] đã mô tả hai kiểu động cơ khác nhau nhưng song song tồn tại bên nhau trong phát triển lâm nghiệp ở Nepan đó là: “Phát triển lâm nghiệp hướng về trung ương” và “Phát triển lâm nghiệp hướng vẻ người dân”. Đề nâng cao việc quản lý rừng công cộng có hiệu quả một số chương trình của Chính phủ Nepan đã phát triển theo hình mẫu “hướng về rừng” để khắc phục hiện tượng tàn phá rừng do sự tác động cộng hưởng của chính sách 12+ +ghiệp không hoàn chỉnh, áp lực của dân số và sự ô nhiễm môi trường. Qua báo cáo của Leuschner [.], tác giả đã khăng định rằng việc hợp tác giữa cư dân địa phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng dé thành công trong các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng và nó có thể trở lên dễ dàng băng cách thu hút các nhóm người dân đó vào việc lập kế hoạch phát triển địa phương.