Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển lâm nghiệp bền vững. “Chương 2: Đặc điểm địa bản và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN LAM NGHIỆP BEN VỮNG Co sở lý luận về phát triển lâm nghiệp bền ving 1. Khái quát về phát triển lâm nghiệp 1. Khái niệm,lịch sử h thành Lâm nghi một ngành s in xuất vật chất trong nền kinh tế qué có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản, phát huy tắc dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường (Cảm nang ngành lâm nghiệp, 2006) Ngành Lâm nghiệp Việt Nam được hình thành theo Sắc lệnh số 69 ngày 01/12/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tính đến nay, ngành lâm nghiệp đã trải qua ba giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất (1945 đến 1975), là giai đoạn lâm nghiệp phục vụ kháng chiến, kiến guée Giai đoạn thứ hai (1976 đến 1991), là giai đoạn lâm nghiệp phục vụ hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế đất nước. Giai đoạn thứ ba (1991 đến nay) có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ hướng tới phát triển bền vững trong bối cảnh cả nước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ngành lâm nghiệp chuyển hướng từ lâm nghiệp quốc doanh sang lâm nghiệp có nhiều thành phan kinh tế. Lâm nghiệp thời kỳ này được thực hiện theo ba Luật quan trọng đó là: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nam 2004, và Luật Lâm nghiệp năm 2017.
Tắt cả từng bước điều chỉnh ngành lâm. nghiệp theo hướng kinh tế - kỹ thuật, bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử. dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản. Vai trò của lâm nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội Lâm nghiệp có vai trò cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ các nhu cầu của xã hội.
- Lâm nghiệp có vai trò làm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường xống, cảnh quan văn hoá xã hội ~ Lâm nghiệp có vai trò tạo nguồn thu nhập và giải quyết công ăn việc. làm cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào thuộc vùng trung du miễn núi. - Lâm nghiệp có chức năng nghiện cứu khoa học. Đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp.
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế quốc dân, cũng như các ngành kinh tế khác, để hình thành và khẳng định tính tắt yếu khách quan tổn tại và phát triển, mỗi ngành đều có những đặc điểm. phản ảnh tính đặc thù của minh, Những đặc thù này có tính quyết định đến việc tô chức sản xuất, quan lý sử dụng các nguồn lực của ngành. Nghiên cứu các đặc điểm săn xuất để hoạch định chiến lược phát triển va qua đó đề ra những chiến thuật (các giải pháp quan lý), khai thác triệt đẻ các nguồn lực nhằm hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất. Sản xuất lâm nghiệp có những đặc điểm chủ yếu: - Chí kỳ sản xuất dài.
là đặc điểm quan trọng, mang tính đặc thù của ngành. Chu kỳ sản. xuất được tính là khoảng thời gian kể từ khí chuẩn bị đưa ke yếu tổ vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm sẵn sàng tiêu thụ. ‘Chu kỳ sản xuất là tiêu thức phản ảnh đặc điểm sản xuất của các ngành.
sản xuất và chủ yếu là do đối tượng sản xuất quyết định. Đối với lâm nghiệp, đối tượng sản xuất là rừng. Khác với đối tượng sản xuất của c: ngành khác, rừng là cơ thể sống, trong đó quần xã cây rừng đồng vai trò chủ đạo và chúng khác bi với các loài thực vật khác là chu kỳ sinh trưởng kéo dai và phát triển chậm. Nếu tính chu kỳ thành thục tự nhiên phải hàng trăm năm, còn chu kỳ thành thục công nghệ cũng phải hàng chục năm.
trong khi đồ chu kỳ sản xuất của một số sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chu kỳ chỉ tính bằng giờ, bằng phút và ngay ngành nông nghiệp (trừ một sé loài cây ăn quả và cây công nghiệp), chu kỳ sản xuất cũng chỉ tính bằng ngày, bằng tháng, Do đặc điểm sản xuất dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tổ chức sản xuất, nh hình quản lý, siddyng các yÉT}Š nguồn lực trong lâm nghiệp. Trước hết là vốn đầu tư lớn, vốn bị ứ đọng ở sản phẩm dé dang nằm tại rùng, đưới dạng rừng non, rừng chưa thành thục công nghệ, do đồ tốc độ chu chuyển chậm, thời hạn thu hồi lâu và thường hiệu quả đầu tư thấp. Mặt khác, sản xuất lâm nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên lại diễn ra trong thời gian đài, chắc chắn sẽ có nhiều rủi đo, khó bảo vệ. thành quả lao động.
Đây cũng lä điểm Kém hap dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào. kinh doanh rừng. Đặc biệt là sản xuất lâm nhiệp diễn ra trong cơ chế th trường, giá cả luôn luôn bị tác động bởi yếu tổ thời gian, chi phí cơ hội lớn, người đầu tư khó có thé dự đoán được kết qa đầu ra. Trong công tác nghiên cứu khoa ho¢ cũng gặp phat những cản trở không nhỏ, có những công trình diễn ra trong thời gian đài mới có kết qua, do đó các nhà khoa học ít có cơ hội tự đánh giá tổng kết công trình nghiên cứu của mình.
‘Tir những khó khăn in trở trên, vấn dé cần đặt ra đối với Nhà nước nói chung và đối với c: c nhà quản lý lâm nghiệp nói riêng là phải có chính sách. đầu tư, hỗ trợ về vốn cho phát triển lâm nghiệp, bằng các chương trình dự án và có chính sách cho vay vốn đài hạn với lãi suất ưu đãi cho kinh doanh và phát triển rừng, phải quy hoạch tổng thé đồng bộ và én định, đồng thời can phải có chính sách bảo hiểm cho người làm rừng khi gặp phải rủi ro, Đối với các nhà quản lý, trong sản xuất lâm nghiệp phải xây dựng kế hoạch đài hạn, thận trọng chọn loại cây trồng phủ hợp với từng vùng sinh thái. Xây dựng các mô hình tổ chức phù hợp với đặc điểm sản xuất chu kỳ sản xuất di in có chính sách đầu tư thoả đáng cho công tác nghiên cứu khoa học và công tác nghiên cứu khoa học cần tập trung nghiên cứu để tạo ra các. loài cây cho năng xuất cao, có khả năng rút ngắn được chu kỳ thành thục công.
nghệ dé hạn chế sự ảnh hưởng của yếu tổ thời gian đổi với sản xuất. > Quá trình tái sản xuất tự nhiên xen kế với quá trình tải sản xuất kinh 16, trong dé quá tình tải sản xuất te nhiên đồng vai trò quan trọng và quyến định: ‘Tai sản xuất là sự lặp di lặp lại của các hoạt động sản xuất mang tinh chủ kỳ, Trong sản xuất lâm nghiệp luôn luôn điễn ra hai quá tình xen kẽ, đó là qué trình tấi sản xuất tự nhiên và quá tình tái sản xuất kính tế, i sản xuất tự nhiên đó là quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng bắt đầu từ quá trình gieo hạt tự nhiên, cây rừng nay mim, lớn lên, ra hoa. kết quả rồi lại tiếp tục lặp đi lặp lại quá trình đó và tuân thủ theo quy luật sinh học (quá trình tái sinh tự nhiên). Như vậy quá trình tái sản xuất tự nhiên là quá trình tái sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tuân theo quy luật sinh học mà không cần sự can thiệp của con người.
Tái sản xuất kinh tế được hiểu là quá trình lặp đi lặp lại sự phát triển cây rùng dưới sự tác động của con người như bón phân, làm cỏ.(thâm -anh rùng, làm giầu rừng) nhằm thoả mãn mục đích nào đó của con người. Do cây rừng luôn luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc vào điều kiện tự nhiên nên quá trình tái sản xuất tự nhiên luôn giữ vai trò quan trọng và quyết định. Điểu này đặt ra cho công tác quản lý và kỹ thuật phải tôn trọng tự nhiên, phải hiểu biết quy luật tự nhiên khi quyết định các phương án sản xuất dé lợi dụng. tối đa những ưu thé của tự nhiên đồng thời cũng phải biết né tránh những bat lợi của tự nhiên đem lại gây cản tré cho sản xuất kinh doanh.
Mặt khác cũng không thể trông chờ hoàn toàn vào sự ưu dai của tự nhị mà cần phải tuỳ sự tác động kinh tế nhất định đẻ đẩy nhanh quá trình > Tái sinh và khai thác rừng có mỗi quan hệ chặt chế với nhau. Tai sinh là quá trình xây dựng rừng (Có hai hình thức tái sinh là tái xinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo). Khai thác rừng là quá trình lợi dụng rừng, ‘qui trình thu hoạch thành quả của quá tình xây dựng rừng. XXết về hình thức thì đây là hai mặt đối lập nhau, song lại thống nhất liên quan chặt chẽ với nhau.
Mục đích xây dựng là để lợi dụng và có lợi dụng, khai thác mới thu hồi được vốn dé tái sản xuất cho các chu kỳ tiếp theo, Nếu. đứng trên góc độ kỹ thuật thì khai thác cỏn được coi là một trong những giải pháp kỹ thuật quan trọng của tái sinh rừng. “Từ đặc điểm này đồi hỏi các nhà quản lý và các nhà kỳ thuật lâm nghiệp phải có giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng cân đối giữa khai thác. và tai sinh để khỏi lạm dụng vào vốn rừng và sử dụng công cụ khai thác hiệu ‘qua trong công tác tái sinh rừng.
~ Sản xuất lâm nghiệp tiển hành trên quy mô rộng, chủ yêu hoạt động ngoài trời và trên những địa bàn có những diéu kiện tự nhiên phức tạp, điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Day là đặc thù rất rõ nét của sản xuất lâm nghiệp. Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp quản lý khoảng trên 19 triệu ha chiếm gần 60% diện tích tự. nhiên toàn quốc, với 75% diện tích là đồi núi, dốc cao, địa hình chia cắt phức.
tạp, hiêm ở, đất đai thường bị xói mòn và ngay ở vùng ven biễn thi đất lâm nghiệp cũng là những loại đất cát hoặc đắt chua mặn không có khả năng canh. Trên các điều kiện tự nhiên đó, hoạt động sản xuất lâm. 10 nghiệp lại chủ yếu tiến hành ở ngoài trời, cự ly hoạt động ngày một xa. thu nhập thấp, đời sống của người làm nghề rùng gặp rất nhiễu khó khăn.
Ve mặt xã hội v kiện tự nhiên phức tạp, cơ sở hạ tang kém phát triển, nên điều kiện phát triển kinh té cũng bị hạn chế. Mặt khác, nguồn lao.