Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã phình sáng huyện tuần giáo tỉnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại Học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

58
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và mục tiêu của đề tài

2. PHẦN II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Cơ sở khoa học trong quản lý bảo vệ rừng

2.3. Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên thế giới

2.4. Tổng quan về địa bàn thực tập

2.4.1. Vị trí địa lý

2.4.2. Tài nguyên đất và rừng

2.4.2.1. Tài nguyên đất
2.4.2.2. Tài nguyên nước
2.4.2.3. Tài nguyên rừng
2.4.2.4. Tài nguyên nhân văn

2.4.3. Thực trạng môi trường

2.4.4. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp của xã năm 2016

2.4.5. Điều kiện kinh tế xã hội

2.5. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.5.1. Phạm vi nghiên cứu

2.5.2. Nội dung nghiên cứu

2.5.3. Phương pháp nghiên cứu

2.6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.6.1. Hiện trạng sử dụng đất đai và nguồn tài nguyên rừng tại xã Phình Sáng

2.6.1.1. Hiện trạng sử dụng đất đai tại xã Phình Sáng
2.6.1.2. Nguồn tài nguyên rừng ở xã Phình Sáng

2.6.2. Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Phình Sáng

2.6.2.1. Những thông tin cơ bản của đối tượng điều tra
2.6.2.2. Cơ cấu tổ chức của công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương
2.6.2.3. Hoạt động giao đất, giao rừng tại phương
2.6.2.4. Xử lý vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương
2.6.2.5. Những biện pháp khác trong quản lý bảo vệ rừng tại địa phương
2.6.2.6. Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp góp phần cho công tác QLBVR tại địa phương

2.6.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về công tác quản lý bảo vệ rừng

Công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) tại xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên là một vấn đề cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh tài nguyên rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng. Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Theo thống kê, diện tích rừng ở Việt Nam đã giảm mạnh do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Do đó, việc thực hiện các biện pháp QLBVR là cần thiết để duy trì và phát triển tài nguyên rừng. Các hoạt động như giao đất, giao rừng, kiểm tra vi phạm luật bảo vệ rừng, và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng là những yếu tố quan trọng trong công tác này. "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, nó đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con người cũng như tất cả mọi sinh vật sống trên trái đất."

1.1. Tình hình tài nguyên rừng tại xã Phình Sáng

Tại xã Phình Sáng, tổng diện tích rừng và đất rừng đạt khoảng 12.717,92 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm phần lớn. Tuy nhiên, tình trạng khai thác rừng trái phép và sự suy giảm chất lượng rừng là những vấn đề nghiêm trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù có những nỗ lực trong việc bảo vệ rừng, nhưng tình trạng xói mòn đất, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang đe dọa tới sự tồn tại bền vững của rừng. "Sự suy giảm tài nguyên rừng không những làm giảm tính đa dạng sinh học mà còn mất đi nguồn gen sinh vật quý và mất cân bằng sinh thái ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người."

II. Phân tích hiện trạng công tác quản lý bảo vệ rừng

Thực trạng công tác QLBVR tại xã Phình Sáng cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Cơ cấu tổ chức QLBVR còn thiếu tính đồng bộ và hiệu quả. Các cơ quan chức năng chưa thực sự có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác bảo vệ rừng. Việc giao đất, giao rừng cho người dân chưa được thực hiện một cách đồng bộ, dẫn đến tình trạng lạm dụng và khai thác bừa bãi. "Công tác QLBVR những năm gần đây đã được cấp Ủy chính quyền quan tâm và đầu tư song vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức." Đặc biệt, ý thức của người dân về bảo vệ rừng còn hạn chế, nhiều hộ gia đình vẫn sống chủ yếu dựa vào rừng tự cung tự cấp, dẫn đến áp lực lên tài nguyên rừng.

2.1. Những khó khăn trong công tác quản lý

Một trong những khó khăn lớn nhất trong công tác QLBVR tại xã Phình Sáng là sự thiếu hụt nguồn lực và nhân lực. Các lực lượng kiểm lâm chưa đủ mạnh để kiểm soát và bảo vệ rừng hiệu quả. Ngoài ra, trình độ dân trí thấp và phong tục tập quán lạc hậu của người dân cũng là một yếu tố cản trở trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng. "Cuộc sống của người dân ở đây còn nhiều khó khăn, đa số người dân ở đây sống chủ yếu dựa vào rừng tự cung tự cấp, trình độ dân trí thấp và không đồng đều."

III. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng

Để nâng cao hiệu quả công tác QLBVR tại xã Phình Sáng, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho người dân về vai trò và giá trị của rừng. Thứ hai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý và bảo vệ rừng. Thứ ba, cần thiết lập các quy ước bảo vệ rừng tại cộng đồng, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng. "Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương."

3.1. Tăng cường giáo dục và tuyên truyền

Việc nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng là rất quan trọng. Cần tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn về bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Sự tham gia tích cực của cộng đồng sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng. "Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương sẽ giúp đề xuất được những giải pháp thiết thực hơn."

03/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Rừng là tài nguyên quý báu của đất nƣớc, nó đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con ngƣời cũng nhƣ tất cả mọi sinh vật sống trên trái đất. Rừng có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trƣờng sinh thái đồng thời là một trong những thế mạnh của vùng trung du, miền núi. Rừng đóng vai trò to lớn đối với an ninh – quốc phòng, có giá trị trong nền kinh tế quốc dân.

Ngoài những chức năng trên rừng còn có khả năng để nghiên cứu khoa học, chức năng về văn hóa xã hội, cũng nhƣ một vị trí quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nƣớc. Ở Việt Nam có diện tích rừng và đất rừng chiếm ¾ tổng diện tích lãnh thổ quốc gia. Nhƣng trong những năm gần đây cùng với xu thế phát triển của kinh tế đất nƣớc, diện tích rừng ở các nƣớc trên thế giới nói chung và ở việt Nam nói riêng đã và đang bị tàn phá rất nghiêm trọng. Qua hai cuộc chiến tranh kéo dài cộng với sự bùng nổ dân số, tài nguyên rừng nƣớc ta đã bị giảm sút nghiêm trọng liên tục, Theo số liệu thống kê sau chiến tranh diện tích rừng chỉ còn lại khoảng 9,5 triệu ha chiếm 29% diện tích rừng cả nƣớc, từ năm 1979 – 1981 rừng chỉ còn 7,8 triệu ha chiếm 24% diện tích rừng cả nƣớc, năm 1987 là 9,7 triệu ha chiếm 28% diện tích rừng cả nƣớc, năm 1993 diện tích rừng cả nƣớc là 14,3 triệu ha với độ che phủ đạt 43,6%.

Theo ƣớc tính mới của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì hàng năm rừng ở Việt Nam rừng mất đi khoảng 110.000 ha rừng, diện tích rừng đƣợc trồng lại hàng năm khoảng 130.000 ha, nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, diện tích đất rừng ngày càng bị thu hẹp, vì vậy hiện tƣợng thiên tai, hạn hán, lũ lụt, xói mòn, sạt lở đất liên tục xảy ra làm ảnh hƣởng đến cuộc 2 sống của ngƣời dân trong cả nƣớc, từ đó gây khó khăn trong công tác sản xuất nông – lâm nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế nƣớc ta. Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng" phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây nên diện tích rừng ở nƣớc ta đã tăng lên so với năm 1995,. Sự suy giảm tài nguyên rừng không những làm giảm tính đa dạng sinh học mà còn mất đi nguồn gen sinh vật quý và mất cân bằng sinh thái ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng sống của con ngƣời. Mặt khác, sinh vật và hệ sinh thái là nguồn cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, công cụ và nhiên liệu.

Do vậy hệ sinh thái bi suy giảm thì con ngƣời ta phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen, đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến các thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của con ngƣời và thiên nhiên. (Phùng Ngọc Lan, 1997) [9] Phình Sáng là xã khó khăn thuộc huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên cách trung huyện 25km và cách thành Phố Điện Biên 105km với tổng diện tích rừng và đất rừng là 12717,92 ha. Cuộc sống của ngƣời dân ở đây còn nhiều khó khăn, đa số ngƣời dân ở đây sống chủ yếu dựa vào rừng tự cung tự cấp, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, phong tục tập quán còn lạc hậu, tình trạng thiếu việc làm còn khá phổ biến và lao động chủ yếu là thuần nông. Do áp lực cuộc sống nên khiến ngƣời dân tác động xấu đến tài nguyên rừng và giảm chất lƣợng rừng.

Công tác QLBVR những năm gần đây đã đƣợc cấp Ủy chính quyền quan tâm và đầu tƣ song vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức. Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Phình Sáng - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên”. Mục đích và mục tiêu của đề tài. - Đánh giá thực trạng QLBVR tại xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

Xác định những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác QLBVR của địa phƣơng trong thời gian tới. Mục tiêu - Đánh giá đƣợc hiện trạng tài nguyên rừng của xã. - Đánh giá đƣợc thực trang công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phƣơng. - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của những thuận lợi, khó khăn trong công tác QLBVR.

- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả công tác QLBVR. Ý nghĩa trong học tập - Giúp sinh viên hiệu đƣợc sâu hơn về công tác tổ chức chỉ đạo trong công tác quản lý bảo vệ rừng của nhà nƣớc. - Giúp sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên cứu phân tích và đánh giá kết quả cũng nhƣ viết báo cáo cho sinh viên sau khi ra trƣờng. - Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho nhƣng ngƣời quan tâm tới công tác tình hình công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Phình Sáng.

Ý nghĩa thực tiễn - Thấy đƣợc những thuận lợi khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phƣơng. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phƣơng. 4 PHẦN II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.

Cơ sở khoa học trong quản lý bảo vệ rừng Quản lý bảo vệ rừng và phát triển là hệ thống các biện pháp quan trọng hiệu quả nhất tác động vào rừng và đất rừng, con ngƣời sống gắn bố rừng và tài nguyên rừng nhằm duy trì mối quan hệ hợp lý giữa con ngƣời với tài nguyên rừng, để giữ gìn và phục hồi sự giàu có của nó đảm bảo năng xuất của hệ sinh thái, sử dụng đầy đủ nguồn tài nguyên thiên nhiên giảm đến mức thấp nhất nhƣng ảnh hƣởng bất lợi của con ngƣời và các yếu tố tự nhiên tác động vào rừng và đất rừng (Dƣơng Văn Thảo, 2006) [5] Quản lý bảo vệ sử dụng rừng và đất rừng là một lĩnh vực tƣơng đối rộng, nó bao gồm QLBVR, sử dụng rừng và đất rừng, thực tế quản lý sử dụng rừng và đất rừng là hai mặt của một vấn đề, quản lý sử dụng rừng và phát triển rừng nó luôn đi kèm với nhau muốn sử dụng thì phải quản lý phát triển để sử dụng bền vững (Lê Sỹ Trung, 2008) [7] Nguyên Văn Mạn(2002) [8] QLBVR nói chung và sử dụng đất rừng nói riêng trong quản lý sử dụng phải đứng trên gốc độ sử dụng lâu bền, nghĩa là phát triển đảm bảo các lợi ích lâu dài cho ngƣời dân, tài nguyên sinh vật và môi trƣờng cần phải giữ gìn cho các thế hệ sau, thể hiện trên ba mặt đó là: - Bảo vệ môi trƣờng sinh thái: Phải duy hệ thông sinh vật bảo vệ tính đa dạng sinh học và tính hoàn chỉnh ổn định của hệ sinh thái. - Bền vững về mặt xã hội: Phải thỏa mãn nhu cầu đa dạng về tài nguyên rừng của thế hệ này, đồng thời không làm tổn hại đến thế hệ tƣơng lai. - Bền vững về kinh tế: Phải cho hiệu quả và năng suất, thu nhập ổn định và đƣợc thị trƣờng chấp nhận. 5 Điện Biên là tỉnh với nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sống ở nơi vùng sâu, vùng xa, vì vậy việc gắn kết với quy ƣớc của cộng đồng dân cƣ thôn bản với pháp luật của nhà nƣớc càng có ý nghĩa quan trọng, nhằm cho quá trình QLBVR đƣợc thực hiện hiệu quả cao, có sử tham gia tích cực của ngƣời dân, trong điều kiện còn nhiều hạn chế về nhiều mặt của đời sống.

Trong những năm qua lực lƣợng kiểm lâm Tuần giáo đã tích cực hƣớng dẫn các thôn bản trên địa bàn huyện xây dựng quy ƣớc bảo vệ rừng theo hƣớng dẫn Thông tƣ 70/2007/ của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên thế giới Trên thế giới trƣớc đây có 17,6 tỷ ha rừng tự nhiên nhƣng hiện nay chỉ còn 4,1 tỷ ha, cứ mỗi năm tính trung bình diện tích rừng nhiệt đới bị thu hẹp 11 triêu ha, trong khi đó diện tích rừng trồng chỉ bằng1/10 diện tích mất đi, đó còn chƣa kể tính đa dạng của rừng trồng, việc phát huy vai trò của nó còn rất nhiều hạn chế, riêng Châu Á – Thái Bình Dƣơng trong thời gian 1976 – 1980 mất đi 9 triệu ha rừng, cũng trong thời gian này Châu Phi mất đi 37 triệu ha rừng, cũng trong thời gian này ở Châu mỹ mất đi 18,4 triệu ha rừng, nạn phá rừng diễn ra trầm trọng ở 56 nƣớc nhiệt đới. Ngân hàng thế giới cho rừngvới tốc độ phá rừng nhƣ hiện nay thì thế giới mất đi 225 triệu ha rừng, đất rừng trồng trọt, do nạn phá rừng nên tình trạng xói mòn đất đai, bạc màu, xa mạc hóa ngày càng nhiều, càng diễn ra nghiêm trọng. Hiện nay phải có 87 triệu ha ngƣời phải sống ở vùng sa mạc.

Hàng năm trên thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất, giá trị sản phẩm xói mòn với số lƣợng này có thể sản xuất ra 50 triệu tấn lƣơng thực mỗi năm, hàng ngàn hồ chứa nƣớc ở các vùng nhiệt đới đang bị cạn dần, các dòng suối, lòng sông cũng bị bồi lắng, tuổi thọ của nhiều công trình bị rút ngắn. - Thập kỷ của thế kỷ XX con ngƣời đã đƣợc chứng kiến những hậu quả của việc mất rừng nên sự thay đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, lũ lụt tăng nhanh 6 không theo quy luật đã thống kê trƣớc đây, sự nóng lên của nhiệt độ không khí, sự xâm hại vào tầng ôzôn bảo vệ cuộc sống trên bề mặt trái đất. Không còn sự cảnh báo của nhà khoa học mà thực tiễn đang đến gần và tác dụng đến từng vùng, từng nơi trên bề mặt trái đất. Chính vì vậy một loạt các công ƣớc quốc tế, chƣơng trình hành động về môi trƣờng, về rừng đƣợc ra đời.

- Theo thống kê của tổ chức FAO (1999) những năm của thế kỷ XX tỷ lệ mất rừng xảy ra liên tục và đặc biệt các nƣớc đang phát triển, các nƣớc thuộc vùng nhiệt đới. Nếu tính trên cả thế giới trong những năm qua đã mất đi hơn 56 triệu ha rừng (mỗi năm dự tính mất khoảng 11 triệu ha), 3 – 3,6 triệu ha tỷ lệ mất rừng hàng năm đạt kỷ lục 0,6 – 0,7% trên toàn thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên" của tác giả Giàng A Pênh, dưới sự hướng dẫn của TS. Đàm Văn Vinh, thuộc Đại Học Thái Nguyên, mang đến cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương. Nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng, từ đó bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Bài viết này hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề quản lý tài nguyên rừng, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi việc bảo vệ rừng đang gặp nhiều thách thức.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về quản lý và bảo vệ rừng, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ về quản lý tài nguyên và môi trường tại huyện Nông Sơn, Quảng Nam", nơi cung cấp những thông tin bổ ích về quản lý tài nguyên rừng tại một huyện khác. Bên cạnh đó, bài viết "Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn tại Ba Vì và Thạch Thất, Hà Nội" cũng sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả kinh tế của rừng trồng. Cuối cùng, bài viết "Đánh Giá Thực Trạng Sử Dụng Đất Lâm Nghiệp Tại Xã Kim Đồng, Huyện Tràng Định, Tỉnh Lạng Sơn" sẽ cung cấp thêm thông tin về việc sử dụng đất lâm nghiệp, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh liên quan đến quản lý tài nguyên rừng.