Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường: Ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp đến môi trường đất huyện Văn Lãng, Lạng Sơn

Nghiên cứu đánh giá tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp đến chất lượng môi trường đất tại huyện Văn Lãng, Lạng Sơn. Phân tích hiện trạng, nguyên nhân ô

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp đến môi trường đất huyện Văn Lãng

Huyện Văn Lãng thuộc tỉnh Lạng Sơn, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Địa hình chủ yếu là đồi núi với độ cao trung bình 300-600m so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.500-1.800mm, tập trung vào tháng 5-9. Đất nông nghiệp phân bố chủ yếu tại các thung lũng, ven suối và sườn đồi thấp. Dân số năm 2018 đạt 53.324 người, tỷ lệ nông thôn chiếm 91,90%. Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ lực của địa phương. Các loại cây trồng chính gồm lúa, ngô, rau màu và cây ăn quả. Thâm canh tăng vụ diễn ra phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông nghiệp đang đặt ra nhiều thách thức cho môi trường đất. Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật ngày càng gia tăng. Đất nông nghiệp面临着 thoái hóa, ô nhiễm và suy giảm chất lượng.

1.1. Địa hình và điều kiện tự nhiên huyện Văn Lãng

Huyện Văn Lãng có diện tích tự nhiên 566,7 km². Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, phân chia bởi các thung lũng và suối nhỏ. Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét, granite chiếm diện tích lớn. Đất phù sa phân bố dọc theo các sông suối. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 20-22°C. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa chiếm 80% cả năm. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nông nghiệp nhưng cũng tạo áp lực xói mòn đất.

1.2. Hiện trạng sản xuất nông nghiệp tại địa phương

Sản xuất nông nghiệp huyện Văn Lãng chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhỏ lẻ. Diện tích đất canh tác khoảng 5.000-6.000 ha. Cây trồng chính là lúa nước, ngô, đậu tương và rau màu. Thâm canh tăng vụ phổ biến với 2-3 vụ mỗi năm. Sử dụng phân bón hóa học trung bình 300-400 kg/ha/năm. Thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ngày càng nhiều. Cơ giới hóa nông nghiệp còn hạn chế. Năng suất lúa đạt 45-55 tạ/ha, ngô 35-45 tạ/ha. Sản xuất nông nghiệp đóng góp quan trọng vào thu nhập và an ninh lương thực.

II. Phân tích các vấn đề ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp tại Văn Lãng

Hoạt động sản xuất nông nghiệp tại huyện Văn Lãng gây ra nhiều vấn đề ô nhiễm đất nghiêm trọng. Sử dụng phân bón hóa học vượt ngưỡng khuyến cáo là nguyên nhân chính. Phân đạm (ure, SA) được bón với liều lượng cao, vượt 30-50% so với khuyến cáo. Lượng nitơ dư thừa tích tụ trong đất, gây chua hóa và ngộ độc cây trồng. Phân lân chứa hàm lượng kim loại nặng như Cd, Pb, As. Sử dụng lâu dài làm tăng nồng độ kim loại nặng trong đất. Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng tràn lan. Các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ chứa hoạt chất độc hại tồn lưu trong đất. Thời gian phân hủy của một số hoạt chất kéo dài hàng năm. Xói mòn đất diễn ra nghiêm trọng trên các sườn đồi. Mưa lớn tập trung theo mùa gây rửa trôi lớp đất mặt. Chất hữu cơ trong đất suy giảm do thâm canh liên tục. Độ phì nhiêu đất giảm rõ rệt qua các năm canh tác.

2.1. Ô nhiễm đất từ phân bón hóa học

Sử dụng phân bón hóa học không hợp lý là vấn đề nổi cộm tại Văn Lãng. Nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2011) cho thấy, đầu tư thâm canh quá mức gây ô nhiễm cục bộ. Phân bón nitơ (ure, SA) được sử dụng với liều lượng cao. Cây trồng chỉ hấp thu 40-60% lượng nitơ bón vào. Phần còn lại tồn dư trong đất hoặc rửa trôi xuống nguồn nước. Phân lân chứa tạp chất kim loại nặng. Cd, Pb tích tụ trong đất qua nhiều năm canh tác. Đất bị chua hóa, pH giảm xuống dưới 5,0. Vi sinh vật đất bị ảnh hưởng tiêu cực. Quá trình nitrat hóa diễn ra mạnh, sinh ra các hợp chất độc hại.

2.2. Ô nhiễm đất từ thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng phổ biến tại Văn Lãng. Các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, trừ nấm được phun nhiều lần mỗi vụ. Hoạt chất tồn lưu trong đất với thời gian bán hủy khác nhau. Nhóm organophosphorus tồn tại 1-3 tháng. Nhóm pyrethroid tồn tại 3-6 tháng. Một số hoạt chất khó phân hủy kéo dài hàng năm. BVTV ảnh hưởng xấu đến hệ vi sinh vật đất. Giun đất, vi khuẩn có lợi bị tiêu diệt. Đất mất khả năng tự làm sạch. Dư lượng BVTV ngấm vào nguồn nước ngầm. Nghiên cứu cho thấy 70-80% lượng thuốc phun rơi xuống đất. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người qua chuỗi thức ăn.

III. Giải pháp bảo vệ môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp Văn Lãng

Bảo vệ môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp tại Văn Lãng đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Áp dụng canh tác bền vững là hướng đi tất yếu. Quản lý và giảm thiểu sử dụng hóa chất nông nghiệp cần được ưu tiên. Chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch là xu hướng. Tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ, phân compost. Áp dụng kỹ thuật bón phân cân đối, đúng liều lượng. Sử dụng thuốc BVTV sinh học thay thế hóa học tổng hợp. Áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp an toàn. Đào tạo, tập huấn cho nông dân về kỹ thuật canh tác mới. Áp dụng công nghệ sinh học trong xử lý đất ô nhiễm. Tăng cường che phủ đất, chống xói mòn. Xây dựng hệ thống giám sát chất lượng đất định kỳ.

3.1. Áp dụng canh tác bền vững và nông nghiệp hữu cơ

Canh tác bền vững là giải pháp quan trọng bảo vệ môi trường đất. Luân canh cây trồng giúp cải thiện cấu trúc đất. Trồng cây họ đậu cố định đạm tự nhiên. Sử dụng phân bón hữu cơ thay thế phân hóa học. Phân compost, phân chuồng ủ hoai cung cấp dinh dưỡng cân đối. Áp dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu giảm xói mòn. Che phủ đất bằng rơm rạ, cây phủ đất. Nông nghiệp hữu cơ không sử dụng hóa chất tổng hợp. Sản phẩm an toàn, giá trị kinh tế cao. Mô hình VietGAP, GlobalGAP đang được nhân rộng. Văn Lãng có tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ.

3.2. Quản lý và giảm thiểu hóa chất nông nghiệp

Quản lý hóa chất nông nghiệp cần sự phối hợp nhiều biện pháp. Giảm liều lượng phân bón hóa học theo khuyến cáo. Bón phân cân đối NPK theo nhu cầu cây trồng. Sử dụng thuốc BVTV sinh học, thuốc thảo mộc. Áp dụng nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV. Đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc, đúng cách. Xây dựng hệ thống thu gom bao bì thuốc BVTV. Xử lý đúng quy cách, không vứt bừa bãi. Tăng cường sử dụng biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh. Kỹ thuật đèn bẫy, bẫy dính, thiên địch. Giám sát dư lượng hóa chất trong đất định kỳ.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn đánh giá ô nhiễm đất nông nghiệp Văn Lãng

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp đến môi trường đất huyện Văn Lãng cho thấy nhiều vấn đề đáng quan ngại. Đất nông nghiệp đang bị ô nhiễm bởi phân bón hóa học và thuốc BVTV. Hàm lượng kim loại nặng trong đất có xu hướng tăng. Độ phì nhiêu đất suy giảm do thâm canh liên tục. Xói mòn đất diễn ra nghiêm trọng trên các sườn đồi. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều giải pháp khả thi. Chuyển đổi sang canh tác bền vững là hướng đi đúng đắn. Nông nghiệp hữu cơ mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường. Quản lý tốt hóa chất nông nghiệp giúp giảm ô nhiễm. Cần có chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi sản xuất. Đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống tưới tiêu hợp lý. Xây dựng mô hình trình diễn, nhân rộng điển hình tiên tiến. Đào tạo nâng cao nhận thức cho người dân. Hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Văn Lãng có tiềm năng phát triển nông nghiệp bền vững.

4.1. Kết quả nghiên cứu và đánh giá tổng thể

Kết quả nghiên cứu cho thấy đất nông nghiệp Văn Lãng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi hoạt động sản xuất. Hàm lượng kim loại nặng (Cd, Pb, As) trong đất tăng theo thời gian canh tác. Đất bị chua hóa, pH giảm trung bình 0,5-1,0 đơn vị. Chất hữu cơ trong đất giảm 20-30% so với đất tự nhiên. Dư lượng thuốc BVTV được phát hiện tại nhiều điểm lấy mẫu. Xói mòn đất trung bình 15-25 tấn/ha/năm trên sườn đồi. Tình trạng ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng hơn ô nhiễm diện rộng. Cần có biện pháp can thiệp kịp thời để bảo vệ tài nguyên đất.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Xây dựng bản đồ chất lượng đất phục vụ sản xuất. Đề xuất vùng an toàn, vùng cần cải tạo. Khuyến nghị nông dân giảm sử dụng hóa chất. Xây dựng quy trình canh tác phù hợp cho từng loại đất. Hỗ trợ nông dân tiếp cận kỹ thuật mới. Phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Tăng cường giám sát môi trường đất định kỳ. Đào tạo cán bộ kỹ thuật địa phương. Nhân rộng mô hình sản xuất bền vững.

28/05/2026
Luận văn thạc sĩ đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi trường đất tại huyện văn lãng tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Đất đai là tài sản vô cùng quý giá đối với m i quốc gia và là tư liệu sản xuất đặc biệt hàng đầu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Nó còn là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, đất không chỉ là tài nguyên thiên nhiên quý giá mà còn là nền tảng để định canh định cư, tổ chức các hoạt động kinh tế, xã hội. Mặc dù giữ vai trò quan trọng, nhưng đất đai lại là nguồn tài nguyên dễ bị tổn thương nếu không sử dụng bền vững. Trong khi đó sự tác động của thiên nhiên và quá trình sử dụng đất của con người có thể làm cho đất đai bị biến động cả về mặt bằng lẫn độ phì nhiêu theo hai chiều hướng: “tốt” hoặc “xấu”.

Do áp lực về thị trường tiêu thụ nông sản mà tình trạng độc canh trên cùng một diện tích đất diễn ra ngày càng nhiều, hoặc hệ thống thâm canh cũng nghèo nàn chưa chú trọng vào các loại cây họ đậu nhằm cải tạo và trả lại độ phì nhiêu cho đất cũng làm cho đất ngày càng bị suy thoái và có nguy cơ không thể canh tác được nữa. Trên cơ sở khoa học và phát huy tiềm năng sẵn có, hướng tới sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai và bảo vệ môi trường, đồng thời thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn trong những năm tới, cần thiết có những phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất đai. Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất đai như: Phân loại các nhóm đất sử dụng, xác định các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sử dụng đất, xác định các nguyên tắc sử dụng đất hợp lý và bền vững đất đai; xác định nội dung và phương pháp đánh giá hiện trạng sử dụng đất; nghiên cứu cơ sở khoa học của định hướng sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng. Văn Lãng là huyện có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các nguồn tài PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 nguyên thiên nhiên và môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Điều kiện tự nhiên của huyện thuận lợi cho canh tác lúa, màu, cây hằng năm khác, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi gia súc và phát triển thuỷ sản quy mô nhỏ. Tuy nhiên, Văn Lãng là huyện có mật độ dân số thấp, diện tích canh tác trên đầu người thấp. Nằm trong vùng ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc, nên đã hình thành 2 mùa rõ rệt: Mùa đông rét đậm, khô hanh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, ngoài ra Văn Lãng thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão từ gió mùa Đông Bắc gây mưa lũ và úng lụt cho mùa vụ, ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng. Nguồn tài nguyên khoáng sản nghèo về trữ lượng và chủng loại, chủ yếu là đá vôi và đất sét.

Chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, tay nghề thấp, thiếu cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật. Luận văn cũng đã đánh giá hiện trạng và sự ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến môi trường tại huyện Văn Lãng. Hơn thế việc sử dụng đất nông nghiệp không phù hợp có thể làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, môi trường sinh hoạt của người dân địa phương. Như vậy, với các tác động thường xuyên của tự nhiên và con người thì công tác điều tra đánh giá chất lượng môi trường đất cần được tiến hành thường xuyên.

Nhằm ngăn chặn những suy thoái về tài nguyên đất đai đồng thời cung cấp căn cứ khoa học cho việc sử dụng đất, quản lý đất hợp lý, bền vững cần thiết phải có hướng nghiên cứu đánh giá sử dụng đất thích hợp đối với điều kiện tự nhiên đất đai và điều kiện kinh tế - xã hội của từng khu vực cũng như từng vùng cụ thể. Xuất phát từ cơ sở thực tiễn trên, đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi trường đất tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn” được thực hiện. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng tài nguyên đất 1.

Hiện trạng tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp trên thế giới Hiện nay, toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% diện tích đất liền. Tuy nhiên, diện tích đất tốt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6%. Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5%. Diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới chiếm 10,8% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), trong đó chỉ có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác.

Kết quả đánh giá đất nông nghiệp cho thấy chỉ có 14% đất có năng suất cao, 28% đất có năng suất trung bình, nhưng có 58% đất có năng suất thấp. Tiềm năng đất đai và diện tích đất canh tác trên thế giới Đơn vị tính: Triệu ha Diện tích có Tổng diện Diện tích đất TT Lục địa khả năng tích canh tác canh tác 1 Châu Phi 2.679 627 451 3 Châu Đại Dương 843 153 49 4 Châu Âu 473 174 140 5 Bắc Mỹ 2.474 Nguồn: FAOSTAT, 2010 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Ở khu vực Đông Nam Á: Dân số ngày một tăng, năm 1995 là 413 triệu người, đến năm 2010 là 530 triệu người. Với tổng diện tích tự nhiên là 347 triệu ha, đến năm 1997 diện tích đất trồng trọt được là 133 triệu ha, đã sử dụng vào trồng trọt 66 triệu ha, còn có khả năng trồng trọt 67 triệu ha chiếm 50,3% (FAO, 2004). Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người.

Nhu cầu của con người ngày càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng nông sản. Thực tế cho thấy khi đất nông nghiệp bị thoái hóa thì cuộc sống của con người bị đe dọa. Theo FAO tình trạng thoái hóa gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe dọa tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng ¼ dân số trên thế giới.

Năng suất cây trồng giảm giá lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và thiên tai ngày càng nhiều đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói của hàng triệu người ở các nước đang phát triển. Thông thường hàm lượng kim loại hình thành trong đá macma lớn hơn trong đá trầm tích. Hàm lượng kim loại nặng (KLN) trong đất được tích lũy ngoài quá trình phong hoá tại ch của các khoáng vật và đá mẹ, còn do các hoạt động sản suất của con người mang lại, mà nguyên nhân này là chủ yếu. Vì vậy, năm 1982 Galloway và Freedmas đã tiến hành nghiên cứu sự phát thải toàn cầu của một số nguyên tố KLN do tự nhiên và do nhân tạo (Lê Văn Khoa, 1999).

Ô nhiễm đất nói chung và ô nhiễm đất do kim loại nặng nói riêng đã và đang là mối quan ngại của tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp. kéo theo những nguy cơ ô nhiễm ngày càng lớn. Tân Hoa Xã dẫn lời ông Chu Sinh Hiền, Giám đốc cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc cho biết m i năm Trung Quốc có tới 12 triệu tấn lúa bị nhiễm bẩn vì kim loại nặng ngấm vào đất trồng (Kỳ Thư, 2006).

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Theo Thomas (1986), các nguyên tố KLN như: Cu, Zn, Cd, Hg, Cr, As… thường chứa trong phế thải của các nhà máy luyện kim màu, sản suất ô tô. Cũng theo Thomas khi nước thải chứa 13 mg Cu/l, 10 mg Pb/l, 1 mg Zn/l sẽ gây ô nhiễm đất nghiêm trọng. Ở một số nước như Đan Mạch, Nhật Bản, Anh, Ailen hàm lượng Pb cao hơn 100 mg/kg đã phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb nghiêm trọng. Ở nước Anh, kết quả điều tra môi trường đất của 53 thành phố, thị xã về các KLN đặc biệt là các KLN như Pb, Zn, Cu, Ni cho thấy: Các KLN trên thường có nhiều ở khu vực khai thác mỏ và có hàm lượng Pb tổng số vượt trên 200 ppm, ở nhiều vùng công nghiệp đã vượt quá 500 ppm (Lê Đức, 2006).

Các chất thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng… đã làm ô nhiễm không chỉ môi trường đất mà còn làm ô nhiễm môi trường nước ở các con sông, biển. Nếu hàng năm có 20 tấn bùn được đổ ra trên 1 ha đất và sau 20 năm dung dịch đất sẽ có khoảng 8 ppm Zn và 5 ppm Cd. Đất bị ô nhiễm KLN làm giảm năng suất cây trồng ảnh hưởng đến nông sản dẫn tới tác động xấu đến sức khoẻ con người. Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã quy định mức ô nhiễm KLN.

Do đó, việc đánh giá và phân loại ô nhiễm đất bởi KLN rất quan trọng trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên này cũng như bảo vệ sức khoẻ cộng đồng (Phạm Văn Khang, 2004). Hàm lƣợng các kim loại nặng đƣợc xem là độc tố đối với thực vật trong đất nông nghiệp Đơn vị tính: mg/kg Nguyên tố Áo Canada Balan Nhật Anh Đức Cu 100 100 100 125 50 50 Zn 300 400 300 250 150 300 Pd 100 200 100 400 50 500 Nguồn: Phạm Văn Khang, 2004 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Hàng năm trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp trở nên khó khăn hơn. Không chỉ đối mặt với sự giảm về diện tích, cả thế giới cũng đang lo ngại trước sự suy giảm chất lượng đất trồng. Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân số.

Sự gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cũng tạo ra nguy cơ ô nhiễm đất nông nghiệp. Thuốc hóa học trừ sâu, phân hóa học trên thế giới ngày càng được sử dụng nhiều. Trong thập niên 80, thuốc BVTV được sử dụng ở các nước như: Indonexia, Pakistan, Philipin, Srilanka đã tăng hơn 10%/năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ