ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSL) là đồng bằng châu thổ lớn, có điều kiện tự nhiên thích hợp cho nghề nuôi thủy sản phát triển với nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm sú, cá da trơn, tôm càng xanh và các loài thủy đặc sản. Trong đó, lươn đồng là một loài thủy đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng đạm trong thịt lươn chiếm 18,37%. Lươn còn có tác dụng an thần và chữa bệnh khó ngủ. Sản lượng lươn đồng chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản và một số nước Châu Âu với các mặt hàng phong phú như lươn tươi, lươn đông lạnh, lươn tẩm dầu hun khói (Nguyễn Lân Hùng, 2010).
Nhu cầu về lươn thương phẩm ngày càng tăng nên phong trào nuôi lươn phát triển rất mạnh ở nhiều tỉnh ĐBSCL. Hình thức phổ biến là nuôi lươn truyền thống. Tuy mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế do lươn có đặc tính sống chui rút trong bùn nên rất khó theo dõi số lượng, tốc độ tăng trưởng, khả năng bắt mồi, tình hình dịch bệnh của lươn nuôi để xử lý kịp thời. Mô hình nuôi lươn không bùn đang là một lựa chọn hiệu quả của người nuôi, mô hình này được cho là đã khắc phục được những hạn chế của mô hình nuôi lươn có bùn, cũng như khả năng thâm canh đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường.
Vì vậy, đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi lươn (Monopterus albus) có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ” được thực hiện.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của đề tài là điều tra hiện trạng và đánh giá tiềm năng của mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ.3 Nội dung nghiên cứu Khảo sát tình hình của nghề nuôi lươn ở Cần Thơ. Phân tích khía cạnh kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ. So sánh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của hai mô hình trên. 1 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của lươn đồng 2.1 Phân loại và hình thái lươn đồng Lươn đồng được phân loại như sau: (fishbase.org) Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Synbranchiformes Họ: Synbranchidae Giống: Monopterus Loài: Monopterus albus (Zuiew, 1793) Hình 2.1 Lươn đồng (Monopterus albus) (Nguồn: https://thuysanco.com) Lươn đồng có thân tròn dài, không có vẩy, cuốn đuôi dẹp bên và mỏng.
Đầu tròn tương đối lớn, mỗi bên có hai lỗ mũi nằm cách xa nhau. Mắt rất bé, nằm ẩn dưới da ở một bên đầu, môi trên dày chồng lên một phần môi dưới. Vây ngực và vây bụng thoái hóa hoàn toàn. Vây lưng, vây hậu môn dạng nếp da mỏng liền với vây đuôi và tia vây không rõ ràng.
Màu sắc lươn thay đổi theo môi trường sống. Tuy sống ở điều kiện môi trường khác nhau nhưng lươn có một số đặc điểm chung như sau: Cơ thể có màu xám ở bên trên, mặt bụng có màu trắng hoặc nâu nhạt với những chấm nhỏ sậm màu ở bên hông và đôi khi có ở mặt bụng (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004).2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống Lươn đồng là loài phân bố rộng khắp thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng nhiệt đới. Môi trường sống của lươn là các ao, hồ, kênh rạch, ruộng lúa nơi có nhiều mùn bã hữu cơ và sinh vật nhỏ làm thức ăn. Vào mùa khô lươn có thể chui rúc vào trong đất ẩm để sống (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004).
Theo Lý Văn Khánh và ctv, (2008) lươn đồng là loài sống tự nhiên ở Đông và Nam Châu Á, sống chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt như trong ao, kênh rạch, các dòng song lớn, trong ruộng lúa hay đầm lầy, lươn cũng có thể sống ở trong các thủy vực hơi mặn, lợ. Lươn là loài sống chui rúc trong bùn đặc biệt trong lớp mùn bã hữu cơ có nhiều sinh vật đáy. Có thể bắt gặp lươn chui rúc trong các đống cỏ, rơm rạ trong ruộng hoặc ao mươn. Ngoài ra lươn còn có tập tính đào hang ven bờ ao, mương để trú ẩn và làm tổ đẻ (Dương Nhựt Long, 2003).
Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000), lươn sống phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Triều Tiên và ở các nước Đông Nam Á. Môi trường sống của chúng là các ao hồ, mương, rãnh, ruộng lúa dọc sông. Lươn sống dưới đáy ao, chui rúc dưới bùn và làm hang. Do cấu tạo cơ thể dễ cho việc trốn lủi nên trong bể nuôi có hang hang hóc và dòng nước chảy thì lươn sẽ bỏ đi.3 Đặc điểm dinh dưỡng Theo kết quả nghiên cứu của Lý Văn Khánh và ctv, (2008) lươn đồng là loài có ruột dày và ngắn hơn chiều dài thân, chỉ số giữa chiều dài ruột so với chiều dài tổng (RLG) trung bình là 0,65.
Mặt khác, lươn có miệng rộng, độ mở của miệng rất to, răng sắt bén, dạ dày có hình dạng ống dài và vách dày nằm dọc theo chiều dài cơ thể. Quan sát bên trong ống tiêu hóa của lươn cho thấy hầu hết thức ăn trong ống tiêu hóa là cá, cua, tép. Kết hợp các đặc điểm bên ngoài, hình dạng ống tiêu hóa và thành phần thức ăn có trong ống tiêu hóa và chỉ số RLG chứng tỏ lươn là loài ăn động vật và có thể ăn những thức ăn có kích thước lớn. Theo Nguyễn Lân Hùng (2010), thức ăn chủ yếu của lươn là động vật.
Lươn có tập tính hoạt động vào ban đem. Khi đêm xuống lươn đi kiếm ăn. Nhưng việc đuổi bắt các loài động vật của lươn kém và mắt lươn không tinh. Tuy nhiên, khứu giác lươn rất nhạy.
Vì vậy, lươn dễ phát hiện các nguồn thức ăn thuối rữa. Lươn có tập tính kiếm ăn về đêm, ban ngày ẩn nấp trong hang hoặc chỉ rình mồi ở của hang. Còn nhỏ lươn ăn động vật phù du, khi trưởng thành thức ăn của lươn là động vật đáy như tôm, cá con, đặc biệt là thức ăn có mùi tanh. Tuy nhiên, thức ăn của lươn có thể thay đổi và phụ thuộc theo giai đoạn phát triển cho cơ thể, thức ăn trong môi 3 trường sống.
Khi kích cỡ không đồng đều và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả đồng loại có kích thước nhỏ hơn (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004).4 Đặc điểm sinh trưởng Theo Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004) lươn đồng sống trong môi trường nước ngọt, đất ẩm ướt, đầm lầy, kênh rạch và lươn đồng có thể sống ở độ sâu 3m. Tốc độ sinh trưởng của lươn tương đối chậm và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Môi trường tự nhiên và điều kiện sống đầy đủ thức ăn, lươn không phải trải qua thời gian trú đông thì lớn nhanh hơn. Lươn con ở năm thứ nhất lớn nhanh về chiều dài, đến năm thứ ba chủ yếu tăng về khối lượng.
Sau một năm tuổi khối lượng trung bình của lươn là 100 150 g/con và có thể đạt được đến 200 - 300 g/con (Dương Nhựt Long, 2003). Nhiệt độ môi trường sống thích hợp cho lươn sinh trưởng là từ 24 28oC. Nhiệt độ trên 28oC lươn giảm ăn và dưới 10oC lươn sẽ chui xuống bùn trú đông. Ở nhiệt độ dưới 0oC lươn vẫn có khả năng tồn tại hay chịu đựng được trong môi trường có độ mặn 6‰ (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000).5 Đặc điểm sinh sản Theo trích dẫn của Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004) lươn là loài có sự chuyển đổi giới tính.
Ở kích cỡ dưới 25 cm hoàn toàn là lươn cái, từ 25 54 cm có cả con đực và con cái, khi lươn đạt kích cỡ 54 cm trở lên thì hoàn toàn là con đực. Lươn là loài không có sự sai khác về hình thái bên ngoài giữa con đực và con cái. Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000), lươn tròn 1 tuổi thân dài 20cm sẽ bắt đầu thành thục sinh dục. Từ lúc bào thai cho đến khi thành thục lần thứ nhất là lươn cái.
Sau khi lươn cái đẻ trứng noãn sào teo lại, tinh sào phát triển và thành lươn đực. Theo Lý Văn Khánh và ctv (2008), khi tiến hành giải phẫu để thu tuyến sinh dục và cắt mô để xác định giới tính của lươn cho thấy hầu hết các tháng đều xuất hiện cả ba nhóm giới tính cái, lưỡng tính, đực. Lươn cái không xuất hiện trong mẫu thu ở các tháng 10, 12, 6. Lươn đực không xuất hiện ở tháng 3, đặc biệt là tháng 11 không thể quan sát được tuyến sinh dục của lươn.
Trong các tháng có đủ 3 nhóm lươn thì lươn lưỡng tính chiếm tỷ lệ cao hơn 2 nhóm còn lại. Hệ số thành thục của lươn đồng cao nhất (9,12%) tập trung ở nhóm có chiều dài từ 30 - 40cm và thấp nhất ở nhóm lươn có chiều dài từ 40 - 50 cm. Lươn cái có hệ số thành thục cao tập trung ở tháng 3 - 5, cao nhất là ở tháng 5. Lươn cái có chiều dài nhỏ hơn 30cm có hệ số thành thục cao nhất.
Ở lươn đực hệ số thành 4 thục cao ở các tháng 7, 9, 12, 1. Theo chiều dài cơ thể thì lươn đực có hệ số thành thục cao nhất tập trung ở nhóm lươn có chiều dài 30 - 50 cm (Phan Thị Thanh Vân, 2009). Ở ĐBSCL lươn đồng có 2 mùa sinh sản là tháng 5 - 6 và tháng 8 - 9. Lươn thường đẻ trứng trong tổ, ở nhiệt độ 29 - 30 oC sau 7 - 8 ngày thì trứng nở và sau 10 ngày sẽ tiêu hao hết noãn hoàng, thức ăn ở giai đoạn này của lươn là giun ít tơ, bọ gậy (Dương Nhựt Long, 2003).
Theo Lý Văn Khánh và ctv (2008), sức sinh sản của lươn đồng phụ thuộc vào hệ số thành thục, lươn có hệ số thành thục càng cao thì sức sinh sản càng lớn. Sức sinh sản tuyệt đối của lươn đồng biến động từ 143 - 6. Sức sinh sản tương đối của lươn đồng là từ 4. Đường kính trứng lươn tăng theo giai đoạn thành thục của buồng trứng.
Đường kính trứng lươn từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 2 tăng lên hơn 3 lần từ 0,07 mm đến 0,25 mm. Ở giai đoạn 4 - 5 đường kính trứng tăng từ 0,38 lên 2,01 mm. Như vậy, khi tuyến sinh dục chín muồi trứng đạt kích cở lớn nhất và chất dinh dưỡng tập trung đầy đủ trong trứng.2 Kỹ thuật nuôi lươn 2.1 Một số phương pháp nuôi Do lươn có tập tính sống chui rúc trong bùn và đào hang để trú ẩn, nếu bờ ao nuôi không đủ cao thì lươn cũng có thể thoát ra được.