Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè, dự báo xu hướng tiêu thụ chè trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới Cây chè là cây trồng có lịch sử lâu đời gắn liền với đời sống của cư dân châu Á. Thời gian phát hiện và sử dụng cây chè đã được ghi trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (760), “Trà chi vị ẩm, phát hồ Thần Nông thị” (Uống chè có từ thời vua Thần Nông).
Xuyên suốt các triều đại Trung Quốc tiếp theo như nhà Tây Chu, nhà Tần, nhà Hán trà chỉ được dùng cho tầng lớp hoàng gia, quý tộc. Do đặc tính sinh trưởng của cây chè, sự giao lưu văn hoá của loài người, đặc biệt là sự truyền bá của tôn giáo (nhất là Phật giáo) cây chè đã lan truyền nhanh chóng đến các châu lục khác. Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến trên thế giới với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, chữa bệnh thì thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với những nghi thức trang trọng và thanh cao (Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Ngọc Oanh, 2011).
Trên thế giới hiện có khoảng 50 quốc gia sản xuất chè chính, trong đó châu Á: 18 nước, châu Phi: 19 nước, châu Mỹ: 11 nước, châu Đại Dương: 2 nước. Hiện tại có hơn 150 quốc gia tiêu dùng chè với khối lượng lớn (Nguyễn Thị Nhiễu, 2007). Trung Quốc là nước phát triển chè sớm nhất trên thế giới. Từ Trung Quốc chè đã truyền bá sang khắp 5 châu, sang Nhật Bản, Trung Đông, châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Hà Lan…), Mông Cổ, Nga và nhiều nước trên thế giới (FAO, 2012).
Là một ngành cần nhiều lao động, chè chiếm vị trí quan trọng trong việc tạo việc làm và nguồn thu xuất khẩu của nhiều nước đang phát 5 triển. Thống kê về diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới những năm gần đây thể hiện qua bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng chè của thế giới từ năm 2010 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng khô Năm (ha) (tạ khô/ha) (tấn) 2010 3. cho thấy, từ 2010 - 2016 diện tích đất dành cho trồng chè trên thế giới tăng từ 3.230 ha và tăng đều đặn qua các năm.
Những quốc gia phát triện diện tích trồng chè mới nhiều nhất trong giai đoạn này là Trung Quốc, Việt Nam và Kenya (FAO, 2018). Năng suất bình quân trên thế giới của cây chè trong giai đoạn 2010 - 2016 cũng giữ ở mức trên 14 tạ/ha. Qua đó có thể thấy rằng, trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu và một số cây trồng khác đang có xu hướng giảm năng suất, cây chè đã thể hiện ưu thế của cây trồng có khả năng thích ứng cao. Tuy nhiên, tiềm năng năng suất của chè còn khá lớn và hoàn toàn có khả năng sẽ có bước đột phá về năng suất trong giai đoạn tiếp theo.
Trong giai đoạn này, nhờ phát triển diện tích trồng chè mà sản lượng chè trên thế giới cũng tăng đáng kể từ 4. Với đà tăng trưởng như vậy, 6 dự báo những năm tiếp theo các nước xuất khẩu chè sẽ có sự cạnh tranh gay gắt với nhau. Trên thế giới chỉ có hai nước đạt sản lượng chè trên 1 triệu tấn/năm là Trung Quốc và Ấn Độ (chiếm 60% tổng sản lượng chè trên thế giới). Sản lượng trên 100 nghìn tấn/năm có 5 nước: Kenya, Srilanka, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Số liệu thống kê về năng suất và sản lượng chè của các nước dẫn đầu năm 2016 thể hiện trong hình 1. Năng suất, sản lượng chè của một số nước trên thế giới năm 2016 Việt Nam từ năm 2012 đến nay đã lọt vào top 5 nước có sản lượng chè lớn nhất trên thế giới. Năng suất chè ở Việt Nam đạt khoảng 20 tạ/ha nhưng do giá chè của Việt Nam rất thấp (bằng 60% giá trung bình của thế giới) nên lợi nhuận không cao. Ngược lại, năng suất chè Trung Quốc chỉ 10,5 tạ/ha nhưng giá chè rất cao vì sản phẩm của Trung Quốc chủ yếu đi theo hướng chè xanh chất lượng cao.
7 Như vậy, có thể thấy ngành sản xuất chè thế giới là ngành có truyền thống, sản phẩm đa dạng, sản xuất ổn định cả về quy mô diện tích, sản lượng; giá bán ít có đột biến. * Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên toàn thế giới là 0,5 kg/người/năm. Những nước có mức tiêu dùng bình quân đầu người cao là Anh 2,87 kg/người/năm; Thổ Nhĩ Kỳ 2,72 kg/người/năm; Iraq 2,51 kg/người/năm; Kuwait 2,23 kg/người/năm (Nguyễn Văn Thụ, 2002). Theo thống kê của Hiệp hội Chè thế giới, hiện nay có 26 quốc gia tiêu dùng số lượng chè hàng năm tương đối lớn.
châu Á không chỉ là khu vực sản xuất chè lớn nhất mà còn là một thị trường tiêu thụ sản phẩm chè lớn nhất, bao gồm có 11 quốc gia, tiếp theo là châu Phi 6 quốc gia, châu Âu 5 quốc gia. Việt Nam là nước có mức tiêu dùng chè trên đầu người còn thấp (0,38 kg/người/năm) nhưng tổng lượng tiêu dùng một năm cũng đã trên 30 ngàn tấn (Tổng công ty chè Việt Nam VINATEA, 2014). * Tình hình nhập khẩu chè trên thế giới Hiện nay trên thế giới có trên 140 nước nhập khẩu chè, bình quân 2,2 triệu tấn/năm. Nước Anh hiện đang tiêu thụ 4% tổng sản lượng chè trên toàn thế giới và 6% tổng tiêu thụ chè của châu Âu.
Anh là nước tiêu thụ chè lớn nhất tại châu Âu chiếm 51%, theo sau là Đức (12%) và Pháp (7%). Tây Ban Nha là nước có mức tiêu thụ tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua với mức trung bình 37%/năm trong khi mức tiêu thụ của Ba Lan giảm trung bình 21%/năm. Các mặt hàng như chè xanh, chè đen sợi và chè thảo dược ngày càng được ưa chuộng (Eurostat, 2017). Theo Trung tâm nghiên cứu tập đoàn đa quốc gia SOMO Consumption (2017), 56% tổng sản lượng chè sản xuất trên toàn thế giới được tiêu thụ nội địa.
Ví dụ, Ấn Độ và Trung Quốc lần lượt tiêu thụ 81% và 73% sản lượng chè được sản xuất trong nước. Ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Indonexia 8 người dân ưa dùng chè xanh, do vậy, mặt hàng trên đang thống lĩnh thị trường nội địa. Do điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, tôn giáo và tập quán sinh hoạt ở các nước khác nhau nên nhu cầu và sở thích tiêu dùng cũng khác nhau về số lượng cũng như về chủng loại chè. * Tình hình xuất khẩu trên thế giới Hàng năm, 44% sản lượng chè thế giới được dành cho xuất khẩu.
Theo đánh giá của FAO, hoạt động xuất khẩu này đã mang lại 33% thu nhập xuất khẩu từ các sản phẩm nông nghiệp của Kenya, 55% ở Srilanka, 2% ở Indonexia và 5% tại Tanzania. Ở Srilanka, thu nhập từ xuất khẩu chè tương đương với 66% chỉ tiêu nhập khẩu lương thực. Còn Kenya thu nhập xuất khẩu chè đủ để chi phí toàn bộ chi tiêu nhập khẩu lương thực. Đây cũng là yếu tố quan trọng khiến sản lượng chè xuất khẩu chè trên thế giới tăng lên hàng năm (Hiệp hội chè Việt Nam, 2017).
Các nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới Năm 2015 Năm 2016 Sản phẩm chè TT Tên nước Lượng Giá trị Lượng Giá trị chủ yếu (tấn) (1.232 Chè đen 2 Srilanka 318.982 Chè đen 3 Trung Quốc 299.062 Chè xanh 4 Ấn Độ 203.125 Chè đen 5 Việt Nam 104.000 Chè xanh, đen (Nguồn: Hiệp hội chè Việt Nam, 2017) Có thể thấy các nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới trong những năm qua gồm Kenya, Srilanka, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, trong đó Việt Nam 9 đứng thứ 5 về xuất khẩu trên thế giới. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của các nước là chè đen, chè xanh, chè Ô long và chè ướp hương. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam Trong những năm gần đây, ngành chè đã có những bước tiến vượt bậc cả về nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Diện tích trồng chè không ngừng mở rộng và phát triển ở hầu khắp các tỉnh có trồng chè (đặc biệt là diện tích trồng chè giống mới).
Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2016 thể hiện ở bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2016 Diện tích chè Năng suất Sản lượng khô Năm kinh doanh (tạ khô/ha) (tấn) (ha) 2010 113.com (truy cập ngày 05/3/2018) Số liệu bảng 1.3 cho thấy, trong giai đoạn 2010 - 2016 diện tích, năng suất và sản lượng chè tăng trưởng mạnh. Năm 2016 diện tích chè cả nước vào khoảng 134 nghìn ha. Trong đó, diện tích chè kinh doanh đạt 118.824 ha, tăng 4,9% (tăng 5.624 ha) so với năm 2010, còn lại là diện tích chè trồng mới và thay thế; Từ năm 2010 - 2016 cả nước trồng mới và thay thế khoảng 20 nghìn ha, bình quân 3 nghìn ha/năm.
Các tỉnh trồng mới và thay thế chè nhiều là 10 Thái Nguyên, Lâm Đồng, Nghệ An, Phú Thọ, Hà Giang, Lào Cai (Vitas, 2017). Do quan tâm đầu tư kỹ thuật trong canh tác nên năng suất chè nước ta cũng không ngừng tăng lên. Năng suất chè cả nước năm 2016 đạt 20,2 tạ khô/ha, tăng 15,4% so năm 2010. Vì diện tích và năng suất tăng nên sản lượng chè Việt Năm cũng không ngừng tăng lên.000 tấn khô, tăng 20,9% (tăng 41.534 tấn) so với năm 2010.
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 Việt Nam cần phát triển diện tích chè lên 140.000 ha, trong đó diện tích kinh doanh đạt 125.000 ha, năng suất bình quân phấn đấu nâng lên 90 tạ tươi/ha, sản lượng búp tươi đạt 1.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 1,2% (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2014). Dự báo xu hướng thị trường chè 1. Dự báo thị trường nội tiêu và xuất khẩu chè của Việt Nam Mức sống của đại bộ phận người dân ngày càng được nâng cao, do đó trong thời gian tới, sản phẩm chè chất lượng cao, đặc biệt là sản phẩm chè xanh chất lượng cao, an toàn sẽ được người tiêu dùng trong nước tiêu thụ nhiều hơn. Dự báo về sản xuất, xuất khẩu chè Việt Nam đến năm 2020 Tổng Xuất khẩu chè đen Xuất khẩu chè xanh Tổng sản Sản Giá trị Sản Giá trị giá trị Năm Giá Giá lượng lượng % (1000 lượng % (1000 (1.000 (Nguồn: Agroinfor, 2017) 11 Về loại chè xuất khẩu: xu hướng tỷ lệ xuất khẩu chè đen giảm dần.
Cụ thể: năm 2006, tỷ lệ xuất khẩu chè đen chiếm 58,0%; năm 2010 giảm xuống còn 54,0%, và dự báo năm 2015 giảm xuống còn 51,0%.