PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là một trong ba bộ phận (nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ) cấu thành nền kinh tế quốc dân, bình quân giai đoạn 2010-2020 ngành nông nghiệp có mức tăng trưởng đạt 2,85%, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 3,64%, đóng góp 18,68% GDP (Tổng cục thống kê, 2010- 2020). Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc, an ninh lương thực được bảo đảm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) nông nghiệp là việc thay đổi tỷ lệ của các ngành sản xuất vật chất, dịch vụ trong kinh tế nông nghiệp và các mối quan hệ của các bộ phận cấu thành kinh tế nông nghiệp; đó là sự biến đổi, điều chỉnh nhằm phá vỡ cơ cấu cũ để tạo ra CCKT nông nghiệp mới ổn định, cân đối có chủ đích trên cơ sở phù hợp với các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tại Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nêu: “Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu; có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2016). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” và “Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020” (Thủ tướng Chính phủ, 2013, 2017) đồng thời ban hành một số chính sách nhằm chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo định hướng đã định. Bởi vậy, CCKT nông nghiệp đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tập trung vào những ngành có lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng (GTGT) cho sản phẩm nông nghiệp phục vụ xuất khẩu (XK).
Kim ngạch XK nông, lâm, thủy sản không ngừng tăng lên, một số mặt hàng đã có vị thế cao trên thị trường quốc tế, góp phần quan trọng trong việc giảm nhập siêu của cả nước, đem lại việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân. Thái Bình là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp (với diện tích đất tự nhiên là 158.630 ha, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, nổi tiếng “bờ xôi ruộng mật”). Dân số toàn tỉnh là 1. Sau kháng chiến chống Pháp, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu, được cả nước biết đến là “quê hương năm tấn”.
Theo xu hướng chung của cả nước, Thái Bình đã thực hiện chuyển dịch CCKT theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ nhưng chưa gặt hái được thành công như mong đợi. Số lượng khu, cụm công nghiệp của Thái Bình rất ít, quy mô nhỏ, không thu hút được các doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất lớn, lĩnh vực dịch vụ cũng không đạt được kết quả cao (Cục thống kê tỉnh Thái Bình, 2019). Chính vì vậy, có thể khẳng định nông nghiệp đã, đang và sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thái Bình. Việc phát triển, chuyển dịch CCKT nông nghiệp để tương xứng với lợi thế của tỉnh đã được đặt ra.
Chính sách là biện pháp can thiệp của nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế theo những mục tiêu nhất định, với điều kiện thực hiện và trong một thời hạn xác định. Chính sách là một công cụ quản lý nhà nước. Do vậy, để chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu của phát triển bền vững (PTBV), nhà nước sử dụng công cụ chính sách là một tất yếu khách quan. Để thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK, đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV, thời gian qua, tỉnh Thái Bình đã chú trọng triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời xây dựng các chính sách riêng của địa phương.
Năm 2015, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thái Bình đã phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Do đó, ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đã gặt hái được những thành tựu đáng khích lệ với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010 - 2020 đạt 4,05%/năm (Cục thống kê tỉnh Thái Bình, 2010- 2020), góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp còn những hạn chế (chưa thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp như mục tiêu đề ra; đối tượng thụ hưởng chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đúng nhưng chưa đủ; chính sách hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh chưa sát với nhu cầu thực tế và hiệu quả thực hiện chưa cao; các chính sách tác động vào quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp nhằm đạt được mục tiêu môi trường chưa được chú trọng…). Do đó, nông nghiệp tỉnh Thái Bình phát triển chưa xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng các mục tiêu của PTBV: (i) chuyển dịch CCKT nông nghiệp diễn ra chậm so với chuyển dịch 3 cơ cấu kinh tế chung của Tỉnh; (ii) mô hình tăng trưởng thiên về chiều rộng với ưu thế về lao động giá rẻ và điều kiện tự nhiên thuận lợi; (iii) tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao nhưng không ổn định; (iv) quy mô sản xuất nhỏ, diện tích đất trang trại 2,19 ha/trang trại thấp hơn mức bình quân của cả nước; (v) 62,39% số lao động trong ngành nông nghiệp chưa qua đào tạo; (vi) tỷ lệ hộ có nguồn thu lớn nhất từ nông nghiệp chỉ chiếm 29,00% trong khi số hộ sản xuất nông nghiệp là 49,5%, tỷ lệ thu từ nông nghiệp thấp hơn so với cả nước (49%) (Cục thống kê tỉnh Thái bình, 2019); (vii) kim ngạch XK nông sản của tỉnh còn thấp, năm 2020 chỉ đạt 26,77 triệu USD (Sở công thương Thái Bình, 2020) đứng ở mức thấp so với mức bình quân (41 tỷ USD) của cả nước.
Việc chuyển dịch CCKT nông nghiệp của tỉnh Thái Bình thành công sẽ có sức lan toả và là bài học kinh nghiệm cho một số địa phương có điều kiện tương đồng như: Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên…. Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV đã trở thành xu hướng tất yếu đối với hầu hết các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt. Tuy nhiên, nghiên cứu về mặt lý thuyết để tạo cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK của một quốc gia hoặc một địa phương cấp tỉnh đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV thì chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách trực diện. Bởi vậy, cần thiết phải hệ thống hóa và xây dựng một khung lý luận chung về chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu PTBV của một địa phương cấp tỉnh trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kỹ những đặc thù của ngành, vùng và địa phương.
Việc xây dựng, hoàn thiện khung lý thuyết nhằm định hướng cho chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững của một quốc gia nói chung và địa phương cấp tỉnh nói riêng là cần thiết, nhất là đối với những địa phương có lợi thế phát triển nông nghiệp trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu. Từ những lý do nêu trên, thời gian tới Thái Bình cần triển khai có hiệu quả các chính sách của Trung ương, bên cạnh đó rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các chính sách của địa phương để thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời phải bảo đảm các mục tiêu của PTBV. Đó là lý do nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài “Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình” cho luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế của mình, đề tài này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2.
Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Xuất phát từ sự cần thiết, yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch CCKT nông nghiệp, đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch CCKT nông nghiệp. Trong đó nổi bật là một số công trình nghiên cứu sau đây: Chenery H. (1988), “Structural transformation” (Chuyển dịch cơ cấu) cho rằng mỗi quốc gia, địa phương cần lựa chọn cho mình một sự chuyển dịch CCKT nông nghiệp một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối đa mọi tiềm lực, lợi thế so sánh của từng Quốc gia, từng vùng, từng địa phương. Cùng quan điểm đó Julian M.
Alsoton và Philip G. Pardey (2014), “Agriculture in the Global Economy” (Nông nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu) nhận định chuyển dịch CCKT nông nghiệp là tất yếu, có vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và hài hòa các mục tiêu về xã hội. Zhang Hongzhou (2012), “China's Economic Restructuring: Role of Agriculture” (Tái cấu trúc kinh tế Trung Quốc: Vai trò của nông nghiệp) cho rằng quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp cần: (i) Hình thành các trang trại quy mô lớn, tận dụng lợi thế về quy mô, lao động, vốn để sản xuất ra các sản phẩm chuyên sâu; (ii) Tận dụng lợi thế so sánh của từng vùng để chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp; (iii) Khuyến khích tự do hóa thương mại nội địa và vùng biên. Rostow, Walt W (1990), “The stages of economic growth: A non-communist manifesto” (Các giai đoạn phát triển kinh tế) đã chỉ ra quá trình chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông nghiệp nói riêng trải qua 5 giai đoạn và mỗi giai đoạn sẽ tương ứng với một CCKT nhất định, nghiên cứu nhấn mạnh mỗi quốc gia, địa phương đều phải trải qua 5 giai đoạn mà không bỏ qua bất kỳ giai đoạn nào, qua mỗi giai đoạn CCKT sẽ chuyển dịch theo hướng tích cực, hiệu quả hơn.
Lê Quốc Doanh (2006), “Nghiên cứu luận cứ khoa học để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nghiên cứu chỉ ra nội dung và các bước đi của quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp; xây dựng cơ sở lý luận của quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp.