mở đầu cho các giai đoạn văn minh ngày càng cao. Lịch sử nông nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau và ngày càng có năng suất cây trồng, vật nuôi và hiệu quả kinh tế cao hơn. Nông nghiệp phát triển ngày càng có quan hệ tương hỗ với phát triển công nghiệp. Do đó, ngày nay phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH.
CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường. [56] - Khái niệm nông thôn Tương tự như khái niệm đất đai và khái niệm nông nghiệp, khái niệm nông thôn có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau: Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford, năm 1995, Rural (nông thôn), xét nghĩa tính từ: (1) thuộc miền quê hoặc thuộc về nông nghiệp; (2) ở miền quê, ở nông thôn; (3) liên quan đến thôn quê, hoặc nông nghiệp [133; tr. Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất bản Macmillan, năm 1996, Rural (nông thôn) xét nghĩa tính từ: (1) có tính miền quê, cuộc sống thôn quê, người thôn quê; (2) sống ở quê, nông thôn; (3) việc đồng án [134; tr. Nông thôn là vùng tập trung dân cư làm nghề nông; phân biệt với thành thị, thành phố: Đời sống ở nông thôn và thành thị còn chênh lệch nhau quá lớn.
[64] Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh KT-XH, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp. [27] Một số ý kiến khác đề cập đến nhiều mặt của nông thôn như sau: - 17 - Về địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn trải ra thành những vành đai bao quanh các thành thị. Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Về tính chất xã hội, cơ cấu dân cư ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình họ, ngoài ra cũng có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị và ngược lại có những người ở thành thị nhưng lại làm việc ở nông thôn.
Về văn hóa, nông thôn thường là nơi bảo tồn và lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc như các phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, những lễ hội, làng nghề cổ truyền, các di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh… nông thôn là kho tàng văn hóa dân tộc. Nếu biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, nông thôn có một sức hút hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Ngoài ra, nông thôn ngày nay được mở rộng ở khái niệm phát triển nông thôn và CNH, HĐH nông thôn. Phát triển nông thôn là một thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động tác động đến cuộc sống của cư dân nông thôn bao gồm việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, các điều kiện y tế, giáo dục… đến việc nâng cao mức sống, mức thu nhập, trình độ văn hóa… của họ.
Ở Việt Nam hiện nay, phát triển nông thôn phải nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể sau đây: một là, CNH nông nghiệp; hai là, văn minh hóa nông thôn; ba là, nâng cao tri thức cho người dân ở nông thôn. CNH, HĐH nông thôn: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở KT-XH, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng QHSX phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn. [56] - 18 - CNH, HĐH NN, NT là một bộ phận của CNH, HĐH đất nước. Đó chính là quá trình dân tộc Việt Nam ra sức phấn đấu tiến hành xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ, phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế để mang lại cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển KT – XH, có thể khái quát những vai trò chủ yếu: Một là, nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội.
Đảm bảo lương thực, thực phẩm cho xã hội là điều kiện quan trọng để ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Do vậy, sự phát triển của nông nghiệp có vai trò quyết định đối với việc thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm và còn tạo cơ sở cho sự phát triển các mặt khác của đời sống xã hội. Hai là, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ. Các ngành công nghiệp nhẹ như ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, công nghiệp dệt may, mía đường, giấy… phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nông nghiệp.
Do đó, muốn phát triển bền vững các ngành công nghiệp này cần thiết phải phát triển nông nghiệp. Ba là, nông nghiệp cung cấp vốn cho sự nghiệp CNH. Sự nghiệp CNH đất nước cần rất nhiều vốn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển gặp khó khăn về nguồn vốn. Nguồn vốn ban đầu để kích hoạt tiến trình CNH thường được xuất phát từ thành quả của những sản phẩm nông nghiệp.
Xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thường là sự lựa chọn để tạo vốn cho giai đoạn đầu của thời kỳ CNH. Bốn là, nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nông nghiệp vừa là đầu vào của một số ngành công nghiệp nhẹ và là đầu ra cho nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ. Nông thôn là tập trung dân số đông.
Thị trường nông thôn là nơi tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hóa góp phần giải quyết đầu ra và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ. - 19 - Năm là, phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Nông thôn là khu vực tập trung phần lớn dân cư của cả nước, là địa bàn rộng lớn nên phức tạp cho công tác quản lý đất đai, dân số. So với thành thị, nông thôn có trình độ dân trí thấp hơn, khoa học – kỹ thuật lạc hậu hơn, thu nhập bình quân cũng thấp hơn.
Vì thế, cuộc sống vật chất, tinh thần của nông dân nhìn chung là thấp hơn so với cư dân thành thị. Do vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ trực tiếp nâng cao đời sống nông dân và tạo tiền đề, cơ sở ổn định chính trị, phát triển KT-XH cho đất nước. Sáu là, phát triển nông nghiệp, nông thôn là điều kiện tăng cường khối liên minh công – nông. Dưới góc độ chính trị, địa bàn nông thôn chủ yếu là nông dân, mà nông dân là bạn đồng minh, là chổ dựa đáng tin cậy của giai cấp công nhân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN.2 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU VÀ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Sở hữu là phạm trù cơ bản, trừu tượng và phức tạp của kinh tế chính trị học.
Sở hữu luôn chiếm vị trí trung tâm của các cuộc tranh luận khoa học trong lịch sử các tư tưởng kinh tế và học thuyết kinh tế. Một số giai cấp, thể chế nhà nước sử dụng sở hữu như là cơ sở nền tảng để xây dựng đường lối chính sách KT-XH, đặc biệt là chính sách đất đai. Xuyên suốt quá trình lịch sử lâu dài và cho đến nay, phạm trù sở hữu vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sở hữu và sở hữu ruộng đất 1.1 Quan điểm về sở hữu Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề sở hữu xuất phát từ thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong các tác phẩm kinh điển của Mác, Ăngghen và Lênin, có thể khái quát ở những nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất, sở hữu là một mặt của quan hệ sản xuất xã hội và sự vận động của quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử.
Trước hết, sở hữu là điều kiện tất yếu của sản xuất. Không ai có thể tiến hành sản xuất nếu như không sở hữu bất cứ TLSX nào. Sở hữu TLSX là tiền đề tạo ra - 20 - của cải vật chất và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu. Quan hệ sở hữu sẽ hình thành quan hệ xã hội về việc chiếm hữu của cải vật chất giữa một bên là người sở hữu và một bên là người không sở hữu.
Người sở hữu trở nên có quyền lực và chi phối trong quan hệ sản xuất, rộng hơn là cộng đồng xã hội. Từ đó hình thành các giai cấp và là nguồn gốc của đấu tranh giai cấp. Mác và Ăngghen đã khái quát quá trình hình thành và thay thế nhau các hình thức sở hữu trong lịch sử. Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu bộ lạc, thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp và trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong kiến mới xuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu tư sản.
Như vậy, chế độ sở hữu đã trải qua những thay đổi liên tiếp, những cải biến liên tục trong lịch sử. Sở hữu vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển của LLSX, là hình thức xã hội có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm LLSX. Sự biến đổi quan hệ sở hữu là kết quả của sự phát triển LLSX chứ không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân, hay một nhóm, thậm chí cả một giai cấp [83]. Thứ hai, chủ nghĩa Mác muốn xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản và xác lập chế độ sở hữu xã hội.