phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chƣơng, 6 tiết. 10 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƢƠNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 1.
Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Quảng Xƣơng 1. Điều kiện tự nhiên Huyện Quảng Xƣơng thuộc miền đất hình thành tƣơng đối muộn so với nhiều nơi khác trong tỉnh. Các sách địa chí cổ đều chép: huyện Quảng Xƣơng từ đời Trần về trƣớc tên là huyện Vĩnh Xƣơng, sau đó phát triển thành Quảng Xƣơng ở đời Hậu Lê. Quảng Xƣơng là huyện đồng bằng ven biển, với diện tích đất tự nhiên sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tính đến năm 2014 là 200,4 km², trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 10.
Về vị trí địa lý Huyện Quảng Xƣơng nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Thanh Hóa, thuộc miền duyên hải. Quảng Xƣơng nằm ở tọa độ 19040’59’’ vĩ độ Bắc, 105048’10’’ kinh độ Đông [7, tr. Vị trí tự nhiên tạo nên địa thế khắc nghiệt về thiên nhiên, xung yếu về quân sự. Đó là sự hình thành tự nhiên bởi hai dòng sông lớn chảy ra biển: sông Mã và sông Yên.
Phía Bắc huyện gần cửa Hới (sông Mã) là núi Sầm Sơn, bên cửa Ghép (sông Yên) là núi Lau Chẹt là hai “cánh tay khổng lồ” của tạo hóa chắn đỡ, đón nhận phù sa của hai dòng sông lớn và những hải lƣu của biển cả. Ngoài ra, huyện Quảng Xƣơng còn có các con sông tự nhiên và nhân tạo nhƣ: sông Thống Nhất đào năm 1976, sông Hoàng và sông Lý cải tạo từ sông tự nhiên mà thành từ năm 1978. Quảng Xƣơng có bờ biển dài 18,2 km với phần thềm lục địa rộng lớn là điều kiện 11 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107.
phát triển nghề biển, nuôi trồng thủy sản và du lịch. Cùng với đó là 2 cửa lạch đã tạo ra vùng triều có diện tích hơn 1.300 ha, có 9 xã ven biển tham gia khai thác hải sản và 10 xã vùng triều tham gia nuôi trồng thủy sản nƣớc mặn, nƣớc lợ. Vùng biển Quảng Xƣơng chủ yếu là vùng bãi ngang, tuy vậy nguồn lợi hải sản phong phú: cá, tôm he, tôm sắt, tôm bột, cua, mực, moi, sứa. nhiều năm ngƣ dân khai thác đạt sản lƣợng lớn (sản lƣợng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao).
Vùng triều Quảng Xƣơng là một thế mạnh để nuôi trồng thủy sản nƣớc lợ, sản xuất ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đƣợc thị trƣờng ƣa chuộng. Phía Bắc huyện Quảng Xƣơng là thành phố Thanh Hóa với Khu Công nghiệp Lễ Môn, phía Tây giáp huyện Nông Cống và Đông Sơn, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam là Khu Công nghiệp Động lực Nghi Sơn (huyện Tĩnh Gia). Nhƣ vậy, Quảng Xƣơng có vị trí địa kinh tế, kết nối giữa Thành phố Thanh Hóa và Khu kinh tế động lực Nghi Sơn, đây là lợi thế đặc biệt quan trọng để thu hút đầu tƣ phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng. Huyện Quảng Xƣơng có đƣờng Quốc lộ 1A chạy theo hƣớng Bắc - Nam từ cầu Quán Nam (Quảng Thịnh) đến cầu Ghép (Quảng Trung) dài 18 km, rất thuận tiện cho việc lƣu thông trong địa bàn huyện.
Có ba tuyến đƣờng 4A, 4B, 4C chạy song song dọc bờ biển cũng tạo nên sự lƣu thông dễ dàng trong vùng. Ngoài ra còn có Quốc lộ 47 từ Thành phố Thanh Hóa đi Sầm Sơn ở phía Bắc và Quốc lộ 48 từ Ngã ba Voi đi Nông Cống, các tuyến đƣờng liên xã. thuận tiện cho việc đi lại, giao lƣu hàng hóa, phát triển KT-XH. Về hành chính Từ năm 1975 đến năm 2015, Quảng Xƣơng đã trải qua 6 lần điều chỉnh địa giới hành chính để hình thành và phát triển hai đơn vị là Thành phố Thanh Hóa và Thị xã Sầm Sơn (trực thuộc tỉnh).
Đến năm 2012 (lần điều chỉnh thứ 5), huyện Quảng Xƣơng còn bao gồm 35 xã và 1 thị trấn. Dân số toàn huyện là 220. Mật độ dân số 1.202 ngƣời/km2. Năm 2015 tiếp tục điều chỉnh lần thứ 6, cắt 6 xã cho Thị xã Sầm 12 Footer Page 19 of 107.
Header Page 20 of 107. Sơn, Quảng Xƣơng còn 29 xã và 1 thị trấn. Điều đáng quan tâm là trong số các xã bị chia tách do điều chỉnh địa giới hành chính đều là các xã có tiềm năng và dân trí cao hơn các vùng còn lại, làm cho mặt bằng chung về KT-XH của Quảng Xƣơng gặp nhiều khó khăn hơn sau mỗi lần điều chỉnh. Trong số 36 xã, thị trấn còn lại (ở thời điểm nghiên cứu), nơi có diện tích lớn nhất là xã Quảng Ngọc (8,8 km2); nơi có diện tích nhỏ nhất là thị trấn Quảng Xƣơng (1,1 km2).
Nơi có dân số đông nhất là xã Quảng Nham (gần 14 nghìn ngƣời) và nơi có dân số ít nhất là xã Quảng Phúc (gần 3 nghìn ngƣời) [7, tr. Về địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu Đến nay, địa mạo Quảng Xƣơng vẫn còn mang dáng dấp của biển cả. Những dải cát, cồn cát kéo dài từ bắc xuống nam. Từ sau năm 1945, địa mạo Quảng Xƣơng thay đổi nhiều, bớt gồ ghề, lồi lõm, khúc khuỷu hơn.
Hệ thống nông giang, mƣơng máng tƣới tiêu cùng làng xóm đổi mới đã phá vỡ không gian làng mạc xƣa, hình thành những không gian nông thôn hiện đại [53, tr. Đi đôi với sự phức tạp của địa hình là sự phức tạp của thổ nhƣỡng. Ngƣời nông dân Quảng Xƣơng trƣớc đây phân chất đất ra thành các loại: đất cát, đất thịt, đất bùn, đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất thịt nặng, đất bùn hẩu. họ phân biệt rõ đồng cát và đồng đất cát.
Do đó, đất ven biển chỉ có thể trồng cây sa mộc, còn đất ven sông Rào có thể cấy lúa, trồng khoai và các loại cây rau màu [53, tr. Quảng Xƣơng có các dòng sông lớn, vừa và nhỏ, tạo thành bởi nhiều nhánh sông từ nhiều miền đất chảy vào để đổ ra biển Đông: sông Mã, sông Yên, sông Hoàng, sông Mã Bà, sông Lý, sông Rào. Sông ngòi đóng vai trò quan trọng trong việc bồi bổ đất và cải tạo đất, nhất là thời chƣa có đê hoặc không cần đê. Đất tốt nhất là đất bãi, phù sa bồi đắp hàng năm do sông ngòi tràn lên ngoại đê, nhƣng mùa màng thất thƣờng tùy theo khí hậu thay đổi.
13 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. Miền Tây huyện là vùng trọng điểm lúa, ở giữa ba, bốn con sông quây vùng bốn phía. Đồng ruộng các xã ven đê, trong đê luôn bị úng ngập vì mùa mƣa đồng thấp hơn nƣớc sông không có chỗ tiêu úng.
Biển ở đây nền quá thấp, bồi chậm, đƣợc nhiều nguồn lợi cói lác, tôm cá thì kém thóc lúa rau màu. Đất nói chung độ pH cao, ít nơi chua nhẹ. Ƣu điểm nền cao, thấp dồn về phía đông, mùa mƣa lụt dễ tiêu [53, tr. Theo nghiên cứu của tác giả Rô-bơ-canh (cựu hội viên Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, tiến sỹ Văn khoa) trong công trình nghiên cứu địa lý về Xứ Thanh, khí hậu Quảng Xƣơng thuộc tiểu vùng khí hậu ven biển.
Nhiệt độ bình quân cả năm là 19,480C, phân chia làm hai mùa rõ rệt. Độ ẩm tháng 2 và tháng 3 cao nhất (86%), tháng mƣa nhiều nhất là tháng 9, tháng 10 và độ ẩm thấp hơn (80%) do trời nhiều mây hơn và bốc hơi ít hơn. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 7 có bão xen hạn hán kéo dài. Từ tháng 11, gió Bắc thổi mạnh từng đợt, trời hết mƣa, độ ẩm tƣơng đối giảm đi, nhƣng trời vẫn nhiều mây xám.
Mùa nóng nhiệt độ cao nhất 380C, thấp hơn vùng giữa và vùng cao nhờ gió đông thổi vào. Mùa rét nhiệt độ xuống dƣới 100C. Nói chung, tiểu vùng này có nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tƣơng đối mát, độ ẩm cao, mƣa vừa phải, đòi hỏi trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý phòng chống bão và mƣa lớn. Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội Đến năm 2014, Quảng Xƣơng có dân số 225.101 ngƣời, gần 61 nghìn hộ, vùng biển chiếm 1/3 dân số trong huyện.
Xuất phát từ đặc điểm điều kiện tự nhiên nên ngành nghề chủ yếu của Quảng Xƣơng là nông nghiệp và ngƣ nghiệp. Ngƣời dân Quảng Xƣơng có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo. Trải qua hàng ngàn năm, nông dân Quảng Xƣơng tiếp thu kinh nghiệm cổ truyền và trải qua thực tiễn đã phải hết sức tìm tòi để phát triển cây lúa. Cây lúa giống nhƣ con ngƣời Quảng Xƣơng “có cứng mới đứng đầu gió”.
Trong năm, việc canh tác lúa ở Quảng Xƣơng chia làm hai vụ rõ rệt: vụ chiêm và vụ mùa, còn gọi là vụ năm và vụ mƣời (gặt tháng năm và tháng 14 Footer Page 21 of 107. Header Page 22 of 107. mƣời âm lịch). Vụ mùa diện tích nhiều hơn vụ chiêm vì mƣa nhiều, đồng cao, thấp đều có nƣớc; lúa vụ mùa cấy cả đồng chiêm.
Đất cấy đƣợc cả hai vụ chiếm diện tích lớn. Trƣớc kia, ngƣời dân gieo cấy nhiều giống lúa: giống lúa đồng cao, giống lúa bát, giống lúa chậu trắng, chậu dự; giống lúa mùa đỏ; giống lúa đồng triều; giống lúa nếp cái hoa vàng, nếp con. Sau này đã đƣợc thay thế bằng các giống mới có khả năng chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, giống ngắn ngày, cao sản. Trong lịch sử, ngƣời dân Quảng Xƣơng có nhiều kinh nghiệm trồng trọt: cơm quanh rá, mạ quanh bờ; khoai đất lạ, mạ đất quen; mƣa cơn đàng Nƣa (tên núi Nƣa ở Thanh Hóa) vác bừa mà chạy, mƣa cơn đàng Vạy đừng chạy mất công; tháng tám trông ra, tháng ba trông vào; sấm đàng Đông trời không có bão.
Hoặc là “ruộng đất cao cấy vào tháng 6, gặt tháng 10, ruộng trũng cấy vào tháng Chạp, gặt vào tháng 5”. Cho đến khi ngƣời Pháp cho đào hệ thống nông giang ở Thanh Hóa, Quảng Xƣơng thuộc phạm vi tƣới nƣớc của kênh Bắc, các vùng đất thấp trong huyện đã có thể cấy 1 năm 2 vụ, còn vùng đất thuộc dải vùng cao ven biển chủ yếu vẫn là hoa màu. Tại vùng đất này còn có nhiều sản vật nhƣ dƣa hấu Mậu Xƣơng (xã Quảng Lƣu), đặc biệt thuốc lào Thƣợng Đình (xã Quảng Định) là đặc sản nổi tiếng khắp nơi. Bên cạnh đó, chăn nuôi và thủ công nghiệp cũng là nguồn bổ trợ thƣờng xuyên cho kinh tế gia đình [7, tr.
Ở Quảng Xƣơng, làng nào cũng có nghề thủ công và chăn nuôi gia súc.