TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam là đất nước có lịch sử phát triển nông nghiệp lâu đời, với điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay khoảng 70% dân số vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp vừa tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống cho con người vừa cung cấp hàng hoá cho xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước diện tích đất sản xuất nông nghiệp đang bị thu hẹp. Vì vậy, để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho con người, tạo nguồn hàng hóa giúp tăng thu nhập cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, Đảng, Nhà Nước đã đưa ra nghị quyết tái cơ cấu nông nghiêp trong đó ngành trồng trọt cần tái cơ cấu như thế nào một cách cụ thể tại mỗi vùng cần có câu trả lời.
Bên cạnh đó, hệ thống trồng trọt lại là hệ thống động theo thời gian nên thường xuyên cần được nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện sao cho đáp ứng được nhu cầu thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế góp phần nâng cao đời sống nông dân, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Quỳnh Phụ là một huyện thuần nông của tỉnh Thái Bình, thu nhập của người dân chủ yếu là từ nông nghiệp. Cây trồng và hệ thống trồng trọt trong huyện tương đối đa dạng, phong phú từ các loại cây ăn quả lâu năm như: vải, nhãn, bưởi, na… cho đến các loại cây trồng ngắn ngày như: ớt, dưa, lạc, đậu tương, ngô, cà chua, cà rốt, khoai tây các loại rau nhưng lúa nước vẫn là cây trồng chủ yếu. Nhưng sản xuất nông nghiệp của huyện đang bộc lộ nhiều hạn chế như: Sản xuất còn mang tính manh mún, tỷ suất hàng hoá thấp do không đa dạng hóa sản phẩm.
Tuy đã chú trọng sản xuất các cây màu có giá trị kinh tế và hàng hóa cao như ớt, dưa hấu nhưng kết quả sản xuất không ổn định do nguồn giống chưa tốt nên dịch bệnh nhiều làm giảm năng suất và mẫu mã sản phẩm. Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác của người dân địa phương chủ yếu chỉ là kinh nghiệm nên còn nhiều hạn chế do vậy, chưa tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa, hiệu quả sản xuất không cao nên chưa khai thác tốt thế mạnh của huyện cho thị trường tại chỗ, trong nước và quốc tế. 1 Theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ của huyện Quỳnh Phụ nhiệm kỳ 2015 – 2020 cũng như nghị quyết Đại Hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi từ sản xuất độc canh lúa sang các cây trồng màu có hiệu quả kinh tế và sản phẩm hàng hóa cao. Đáp ứng tinh thần của nghị quyết này, cần nghiên cứu, cụ thể hóa chuyển dịch từ cây lúa sang cây gì, kỹ thuật sản xuất ra sao cho hiệu quả.
Muốn vậy cần rà soát, đánh giá, phân tích hệ thống trồng trọt tìm ra điểm hạn chế ở đâu mà tác động cho trúng, tạo hiệu quả cao nên rất cần được nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do trên, để góp phần hoàn thiện sản xuất ngành trồng trọt hướng tới việc tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống nông dân trên địa bàn huyện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cải tiến hệ thống trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu chung Xây dựng hệ thống cây trồng nông nghiệp theo hướng hàng hóa bền vững, phù hợp với chương trình phát triển kinh tế của huyện Quỳnh Phụ, góp phần nâng cao đời sống người nông dân.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được điều kiện môi trường của hệ thống trồng trọt tại huyện Quỳnh Phụ - Đánh giá được hiện trạng hệ thống trồng trọt của huyện Quỳnh Phụ. - Xây dựng được một số giải pháp kỹ thuật trồng trọt trên cây dưa hấu và cây ớt tại huyện Quỳnh Phụ. - Đề xuất được hệ thống trồng trọt cải tiến và đánh giá hiệu quả của hệ thống. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Phạm vi không gian: Nghiên cứu hiện trạng sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên đất trồng cây hàng năm của huyện Quỳnh Phụ.
Các nghiên cứu về 2 biện pháp kỹ thuật trên cây ớt và cây dưa hấu được thực hiện tại 3 xã đại diện cho 3 loại đất khác nhau của huyện Quỳnh Phụ: xã An Ấp đại diện cho đất vàn cao, xã Quỳnh Minh đại diện cho đất vàn trung bình và xã An Quý đại diện cho đất vàn thấp. - Phạm vi về thời gian: + Thí nghiệm trên cây ớt được thực hiện ở vụ Thu Đông năm 2017 và năm 2018. + Thí nghiệm trên cây dưa hấu được thực hiện ở vụ Xuân Hè năm 2017 và năm 2018. + Mô hình trình diễn ớt vụ Thu Đông và mô hình trình diễn dưa hấu vụ Xuân Hè năm 2019 +Nghiên cứu giải pháp cải tiến hệ thống trồng trọt tập trung vào giải pháp về giống và biện pháp kỹ thuật trên cây ớt và dưa hấu.
+ Các số liệu thứ cấp từ 2013 – 2017. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Đánh giá được thực trạng sản xuất, những yếu tố hạn chế trong hệ thống nông nghiệp của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Lựa chọn được giống ớt GL1-6 và giống dưa hấu Super Hoàn Châu phù hợp trong sản xuất của huyện cho hiệu quả kinh tế cao Cải tiến được kỹ thuật canh tác xới xáo trên ớt và bấm ngọn trên dưa hấu tại huyện Quỳnh Phụ làm tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỨC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học phù hợp cho phát triển hệ thống trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình và cũng là tài liệu tham khảo cho những vùng sản xuất có điều kiện tương tự.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho lãnh đạo địa phương, người dân trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ tham khảo, lựa chọn giống cây ngắn ngày phù hợp 3 với điều kiện đất đai, kinh tế cụ thể của nông hộ, mang lại hiệu quả sản xuất cao như: ớt, dưa hấu. Kết quả hai mô hình trồng ớt và dưa hấu với kỹ thuật cải tiến đã cho thấy hiệu quả cao tại địa phương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2.
Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu hệ thống trồng trọt 2. Hệ thống trồng trọt Theo Nguyễn Duy Tính (1995) thì hệ thống trồng trọt (HTTT) là hệ thống con và là trung tâm của hệ thống nông nghiệp (HTNN), cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ thống con khác như: chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, … HTTT là trung tâm của HTCT. Hệ thống trồng trọt là một bộ phận của HTNN, HTTT bao gồm: Đất trồng và nguồn năng lượng tự nhiên (nhiệt độ, ánh sáng, mưa. Cây trồng và giống cây trồng.
Các điều kiện sản xuất (khả năng cung cấp nước, phân bón, cung ứng giống) và hệ thống kỹ thuật (Võ Minh Kha, 2003). Nghiên cứu HTTT là một vấn đề phức tạp vì nó liên quan đến nhiều tài nguyên và môi trường như: Tài nguyên đất, khí hậu, cây trồng, vấn đề sâu bệnh, dịch hại, mức đầu tư và trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Mục đích của việc nghiên cứu là nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất, khí hậu và nâng cao năng suất cây trồng. Hệ thống cây trồng * Khái niệm hệ thống cây trồng Theo Zandstra & cs.
(1981) cho rằng hệ thống cây trồng (HTCTr) là thành phần các giống và loài được bố trí theo không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội. Hệ thống cây trồng là tổng thể các loại cây trồng trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau, được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian, HTCTr là bộ phận của HTTT. Chuyển đổi hay hoàn thiện HTCTr là phát triển HTCTr mới trên cơ sở cải tiến HTCTr cũ hoặc phát triển HTCTr mới bằng tăng vụ, tăng cây hoặc thay thế cây trồng để khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, con người và lợi thế so sánh trên vùng sinh thái (Nguyễn Duy Tính, 1995). 5 Phạm Văn Hiền & Trần Danh Thìn (2009) cho rằng HTCTr là trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp…Trong đó, luân canh cây trồng có vai trò rất lớn, góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích.
David (2003) đã nhận xét HTCTr tối ưu không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà còn phụ thuộc vào quy mô và phần trả lại của sản phẩm cây trồng, giá của chi phí đầu vào bao gồm cả lao động, khả năng đầu tư của nông dân và chiều hướng của rủi ro. Để nghiên cứu hoàn thiện hệ thống cây trồng cần tìm ra nguyên nhân cản trở phát triển sản xuất, từ đó tìm ra giải pháp khắc phục đồng thời đưa ra những dự báo tác động. * Hệ thống cây trồng hợp lý Hệ thống cây trồng hợp lý là phát triển HTCTr mới trên cơ sở cải tiến HTCTr cũ. Thực tế của công việc này là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991).
Khi xét về khía cạnh sinh thái học, bố trí HTCTr hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để nâng cao năng suất sơ cấp cao nhất (Đào Thế Tuấn, 1984). Theo David (2003), chỉ ra rằng để xác định HTCTr hợp lý, ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cần phải phù hợp với phương hướng sản xuất của từng vùng. Phương hướng sản xuất sẽ quyết định HTCTr, nhưng HTCTr hợp lý sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất.