Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15) của nghiên cứu sinh Đặng Thị Minh Nguyệt, được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Đức Cường và PGS.TS. Nguyễn Danh Lợi. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kinh tế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam, thu hút gần 70% lực lượng lao động xã hội, đảm bảo an ninh lương thực và đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt và là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với dân số trên 8,64 triệu người, trong đó khu vực nông thôn chiếm hơn 1,6 triệu người. Yêu cầu cung ứng nông sản gia tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đặt ra thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp thành phố.

Từ đầu thế kỷ XXI, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, ứng dụng công nghệ cao và hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn. Nhờ đó, nông nghiệp thành phố đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 5%/năm từ năm 2001 trở đi. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng làm nảy sinh tình trạng mất cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, khiến diện tích đất nông nghiệp suy giảm bình quân hơn 1.000 ha/năm. Thêm vào đó, thổ nhưỡng thành phố có hơn 50% là đất phèn mặn và khoảng 20% là đất xám bạc màu, năng suất lúa truyền thống trước đây chỉ đạt khoảng 6,76 triệu đồng/ha/năm.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định định hướng nông nghiệp đô thị, nhưng trong một thời gian dài chưa xây dựng được hệ thống quan điểm toàn diện, lộ trình và giải pháp đồng bộ cho từng giai đoạn; chất lượng tăng trưởng, trình độ sản xuất hàng hóa và việc ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế. Đặc biệt, dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng, chưa có công trình nào tổng kết, phân tích một cách toàn diện, có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố đối với phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 2001 - 2015.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015.
  2. Rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố trong các giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể như sau:

  1. Tổng hợp, phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
  2. Phân tích các nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015.
  3. Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015; làm rõ việc vận dụng chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn địa phương.
  4. Làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015.
  5. Đánh giá ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố giai đoạn 2001 - 2015.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến năm 2015.
  • Phạm vi nội dung: Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thành phố đối với các vấn đề: phát triển sản xuất nông nghiệp (tiếp cận theo nghĩa hẹp gồm hai ngành trồng trọt và chăn nuôi); chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp; phát triển khoa học, công nghệ trong nông nghiệp và các nhân tố chi phối sự lãnh đạo.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn khu vực có sản xuất nông nghiệp thuộc các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Cần Giờ, Bình Chánh, Nhà Bè và một số quận như Quận 2, Quận 9, Quận 12, Quận Thủ Đức, có so sánh đối chiếu với một số địa phương khác.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 (bắt đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII) đến năm 2015 (kết thúc kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX). Luận án phân kỳ thành hai giai đoạn: 2001 - 2005 và 2006 - 2015 (mốc 2006 đánh dấu việc đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu chung về kinh tế nông nghiệp Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng

  • Về thực trạng nông nghiệp thời kỳ đổi mới: Nguyễn Sinh Cúc (2002) với Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 – 2002); Nguyễn Văn Bích (2006) với Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới, quá khứ và hiện tại; Đặng Kim Sơn với Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau.
  • Về đường lối và sự lãnh đạo của Đảng: Nguyễn Ngọc Hà với Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011); Vũ Quang Hiển với Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930 - 1975); công trình của Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) về Giá trị lý luận và thực tiễn của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp; công trình của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về Lịch sử phong trào nông dân và hội nông dân Việt Nam (1930 – 2015).
  • Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông nghiệp hàng hóa: Nguyễn Kế Tuấn với Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam - con đường và bước đi; Lê Quang Phi với Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới; Phạm Ngọc Dũng với Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay; Lê Quốc Lý và cộng sự với Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Vấn đề và giải pháp; Trần Xuân Châu với Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam thực trạng và giải pháp; Nguyễn Vĩnh Thanh và Lê Sỹ Thọ với Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO thời cơ và thách thức; Nguyễn Thị Tố Quyên với Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 – 2020.
  • Về kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu của tác giả nước ngoài: Phạm Khiêm Ích và Nguyễn Đình Phan với Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực; Kenji Cho và Hironori Yagi (2003) với Vietnamese Agriculture under Market-Oriented Economy; Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008) với Land in Transition: Reform and Poverty in Rural Vietnam; các nghiên cứu của Nguyễn Đình Liêm (về Đài Loan), Cù Ngọc Hưởng, Đặng Kim Sơn, Lê Du Phong (về Hungary).
  • Về luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương: Nguyễn Văn Vinh (Thanh Hóa), Đào Thị Bích Hồng (Bạc Liêu), Trần Thị Thái (Nam Định), Tống Thị Nga (Phú Thọ), Lê Tiến Dũng (ngoại thành Hà Nội), Lê Thị Hồng (Thái Bình), Nguyễn Văn Thông (Hải Phòng), Ngô Thị Lan Hương (Hà Nội), Vũ Trọng Hùng (Vĩnh Phúc), Nguyễn Thị Nguyệt Ánh (Hưng Yên).

Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh

  • Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh với Kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh 25 năm xây dựng và phát triển (1975 – 2000); Phan Xuân Biên và Trần Nhu với Thành phố Hồ Chí Minh: 30 năm xây dựng và phát triển.
  • Trương Thị Minh Sâm với Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Đức Nhân với Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh.
  • Các luận án và đề tài chuyên sâu: Nguyễn Việt Hùng với luận án Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo nông dân ngoại thành phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn thời kỳ 1986 – 1996; Nguyễn Khánh Mậu với đề tài Xóa đói giảm nghèo đối với nông dân ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; Bùi Thị Thuận với nghiên cứu về Phát triển nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo hướng xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững; Nguyễn Thị Hằng với Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020; Lê Thị Mỹ Hà với luận án Biến đổi xã hội ở nông thôn thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (từ năm 1997 đến năm 2010); Huỳnh Văn Giáp (nghiên cứu tại Củ Chi); Nguyễn Chí Tâm (nghiên cứu tại Quận 9).
  • Lịch sử Đảng bộ các địa phương: Huyện Củ Chi (1975 - 2005), Huyện Cần Giờ (1930 - 2010), Huyện Nhà Bè (1975 - 2005), Huyện Bình Chánh (1975 - 2005), Quận 2 (1997 - 2007), Quận 9 (1997 - 2007).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận xét: Đa số các công trình trước đây tiếp cận nông nghiệp thành phố dưới góc độ kinh tế học hoặc chỉ giới hạn ở một địa bàn quận, huyện, hoặc dừng lại ở giai đoạn trước năm 2000. Dưới góc độ Lịch sử Đảng, chưa có công trình nào tái hiện đầy đủ, toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong suốt giai đoạn 15 năm đầu thế kỷ XXI (2001 - 2015), từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử xác đáng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế và kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, đặc trưng của khoa học lịch sử:

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu.
  • Ứng dụng cụ thể theo từng chương:
    • Chương 1: Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp tài liệu nghiên cứu.
    • Chương 2 và Chương 3: Sử dụng phương pháp lịch sử và logic làm chủ đạo, kết hợp phân tích, thống kê, so sánh nhằm tái hiện chủ trương và quá trình chỉ đạo thực tiễn.
    • Chương 4: Sử dụng phương pháp lịch sử, logic, tổng hợp và phân tích để đưa ra các nhận xét và đúc kết kinh nghiệm.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Hệ thống văn kiện của Đảng và Nhà nước: Các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan; văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Thành ủy, HĐND và quyết định của UBND thành phố.
  2. Các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo, luận án, luận văn đã công bố.
  3. Số liệu thống kê chính thức từ Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh và các báo cáo khảo sát thực tế hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm vấn đề: đường lối nông nghiệp của Đảng, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, thực trạng kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và lịch sử đảng bộ các địa phương. Tác giả đánh giá những thành tựu của các nghiên cứu đi trước về mặt tư liệu và phương pháp tiếp cận, đồng thời xác định rõ khoảng trống khoa học lịch sử mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2005

Chương này phân tích các yếu tố tác động và làm rõ chủ trương, quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố trong giai đoạn 2001 - 2005.

1. Các yếu tố tác động

  • Điều kiện tự nhiên và đất đai: Thành phố có tổng diện tích tự nhiên 209.529,9 ha với 4 dạng địa hình (gò cao lượn sóng 30%, bằng phẳng thấp 15%, trũng thấp đầm lầy 34%, trũng thấp ven biển 21%). Phân bố sử dụng đất năm 2015 được luận án thống kê như sau:
Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích tự nhiên 209.529,9 100,00
1. Đất nông nghiệp 115.767,7 55,25
- Đất sản xuất nông nghiệp 67.088,2 32,02
+ Đất trồng cây hàng năm (đất lúa: 18.670 ha; cỏ chăn nuôi: 2.222,1 ha; khác: 14.532 ha) 35.424,1 16,91
+ Đất trồng cây lâu năm 31.664,1 15,11
- Đất lâm nghiệp có rừng (rừng phòng hộ: 34.015,1 ha; sản xuất: 839,9 ha; đặc dụng: 29,9 ha) 34.884,9 16,65
- Đất nuôi trồng thủy sản 11.354,0 5,42
- Đất làm muối 2.068,6 0,99
- Đất nông nghiệp khác 371,6 0,18
2. Đất phi nông nghiệp 92.762,3 44,27
3. Đất chưa sử dụng 999,9 0,48

Thổ nhưỡng gồm 4 nhóm chính: đất phèn trung bình và nhiều (gần 30%), đất phù sa ngọt (khoảng 5.200 ha, chiếm 12%), đất xám (khoảng 20%), đất mặn (khoảng 12%). Nguồn nước chịu ảnh hưởng lớn của chế độ bán nhật triều sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, gây ngập úng định kỳ.

  • Bối cảnh kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh sang dịch vụ (trên 50%) và công nghiệp (khoảng 45%), nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng xấp xỉ 1% GDP (năm 2015 đạt 12.780,1 tỷ đồng, chiếm 0,99% tổng giá trị sản xuất). Lao động nông nghiệp giảm từ hơn 140.000 người năm 2000 xuống còn hơn 70.000 người năm 2015.
  • Thực trạng trước năm 2001: Sau năm 1975, ngoại thành là "vành đai trắng" hoang hóa. Giai đoạn 1981 - 1985 hình thành các nông trường quốc doanh (Phạm Văn Cội trồng cao su, Phạm Văn Hai trồng dứa). Giai đoạn 1991 - 1995 tăng trưởng nông nghiệp đạt gần 4,5%/năm, nhưng giai đoạn 1996 - 2000 giảm xuống chỉ còn 0,6%/năm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế 1997. Năng suất trồng lúa thấp (6,76 triệu đồng/ha/năm), diện tích đất canh tác giảm hơn 1.000 ha/năm.
  • Chủ trương của Trung ương: Đại hội IX (2001), Nghị quyết số 15-NQ/TW (18/03/2002) về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010, Nghị quyết 13-NQ/TW về kinh tế tập thể, Nghị quyết 26-NQ/TW (2003) về đất đai.

2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố

  • Chủ trương: Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ VII (2001) và Nghị quyết số 05-NQ/TU (04/07/2002) xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đưa tỷ trọng chăn nuôi tăng lên; phát triển kinh tế hộ kết hợp du lịch sinh thái; phấn đấu tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và nông thôn ngoại thành đạt 11%/năm; cơ cấu nội bộ nông nghiệp đến năm 2005 đạt: trồng trọt 36%, chăn nuôi 36%, thủy sản 16%, lâm nghiệp 2%.
  • Chỉ đạo thực hiện: Năm 2003, UBND thành phố thành lập Ban chỉ đạo nông nghiệp, nông thôn. Thành phố thực hiện quy hoạch lại các vùng sản xuất chuyên canh:
    • Vùng rau an toàn: Ban hành tiêu chuẩn năm 2002, đến năm 2005 đạt 8.200 ha tại Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, mang lại thu nhập bình quân 60 - 100 triệu đồng/ha/năm.
    • Vùng hoa - cây kiểng: Diện tích tăng từ 665 ha (năm 2000) lên gần 1.000 ha (năm 2005), tập trung tại Quận 12, Thủ Đức, Bình Chánh.
    • Vùng chăn nuôi bò sữa: Hình thành vùng chuyên canh tại Củ Chi, Hóc Môn với các trang trại quy mô lớn trên 100 con (như trang trại Vũ Phương Bình 123 con, Sao Mai 115 con, Tân Phát Thịnh 106 con, trại giống cao sản Delta 400 con) cùng vai trò nòng cốt của Công ty Bò sữa Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương 3: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2015

Chương 3 trình bày các nhân tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố từ năm 2006 đến năm 2015, đặc biệt là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tốc độ đô thị hóa nhanh. Nội dung trọng tâm của chương là sự chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp đô thị, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang các ngành hàng có giá trị gia tăng cao, phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao (khu nông nghiệp công nghệ cao tại Củ Chi, chuẩn bị mở rộng tại Cần Giờ, Bình Chánh), công nghệ sinh học sản xuất giống cây - con phục vụ thành phố và các tỉnh lân cận.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đưa ra các nhận xét, đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2015. Trên cơ sở đó, luận án đúc kết hệ thống các kinh nghiệm chủ yếu về:

  1. Nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy lãnh đạo về vị trí, vai trò của nông nghiệp đô thị trong một trung tâm kinh tế lớn.
  2. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch đất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện đô thị hóa.
  3. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ sinh học và nông nghiệp công nghệ cao.
  4. Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn, thị trường, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  • Về lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ và cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp đô thị trong điều kiện một đô thị đặc biệt đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Về thực tiễn: Hệ thống hóa một cách toàn diện và khoa học quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015; phân tích làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế bất cập và nguyên nhân.
  • Tổng kết kinh nghiệm: Cung cấp các luận cứ khoa học và bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn giúp Đảng bộ thành phố hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp đô thị trong các giai đoạn tiếp theo.
  • Tư liệu khoa học: Cung cấp, bổ sung và chỉ dẫn nguồn tư liệu chính xác phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử ngành nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đô thị ổn định và bền vững.
  • Tăng cường đầu tư nguồn lực và cơ chế chính sách để đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, công nghệ sinh học vào sản xuất giống và chế biến nông sản.
  • Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu theo nghĩa hẹp của kinh tế nông nghiệp (chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi), chỉ kết hợp phản ánh một phần ngành thủy sản và lâm nghiệp; giới hạn không gian tại các địa bàn sản xuất nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh và mốc thời gian dừng lại ở năm 2015 theo phạm vi đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển nông nghiệp đô thị thông minh, nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch và chuyển đổi số nông nghiệp trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Kinh tế phát triển và Quản lý nông nghiệp đô thị.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và các bài học kinh nghiệm thực tiễn cho Ban Thường vụ Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các cơ quan ban ngành trong việc xây dựng các đề án, chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao và nông thôn mới giai đoạn tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

1. Phân bố diện tích đất nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh theo số liệu luận án như thế nào?

Theo số liệu thống kê năm 2015 được luận án trích dẫn, tổng diện tích đất tự nhiên của Thành phố Hồ Chí Minh là 209.529,9 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 115.767,7 ha (55,25%), đất phi nông nghiệp chiếm 92.762,3 ha (44,27%) và đất chưa sử dụng là 999,9 ha (0,48%). Đất sản xuất nông nghiệp trực tiếp là 67.088,2 ha (32,02%), bao gồm 35.424,1 ha đất trồng cây hàng năm (đất lúa chiếm 18.670,0 ha) và 31.664,1 ha đất trồng cây lâu năm.

2. Những khó khăn căn bản của nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2001 là gì?

Trước năm 2001, đất đai nông nghiệp thành phố có trên 50% là đất phèn mặn và gần 20% là đất xám, không thuận lợi cho cây lúa nhưng diện tích trồng lúa lại chiếm tới 66% đất trồng trọt, dẫn đến hiệu quả kinh tế rất thấp (chỉ đạt 6,76 triệu đồng/ha/năm). Tốc độ đô thị hóa nhanh làm giảm hơn 1.000 ha đất nông nghiệp mỗi năm, đất đai bị bỏ hoang nhiều và tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giai đoạn 1996 - 2000 suy giảm xuống chỉ còn 0,6%/năm.

3. Mục tiêu cụ thể về cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp được Đảng bộ thành phố đề ra cho giai đoạn 2001 - 2005 là gì?

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ VII và các văn kiện chỉ đạo xác định mục tiêu tăng trưởng nông nghiệp và nông thôn ngoại thành đạt 11%/năm, nâng giá trị sản xuất năm 2005 gấp 1,5 lần năm 2000. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đến năm 2005 chuyển dịch đạt: trồng trọt 36%, chăn nuôi 36%, thủy sản 16% và lâm nghiệp 2%.

4. Vùng chuyên canh rau an toàn và hoa kiểng tại thành phố phát triển ra sao trong giai đoạn 2001 - 2005?

Về vùng rau an toàn, sau khi ban hành Tiêu chuẩn vùng sản xuất rau an toàn năm 2002, đến cuối năm 2005 thành phố đã phát triển được 8.200 ha tại Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, mang lại thu nhập bình quân 60 - 100 triệu đồng/ha/năm. Về hoa kiểng, diện tích tăng từ 665 ha năm 2000 lên gần 1.000 ha năm 2005, tập trung tại Quận 12, Thủ Đức, Bình Chánh.

5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học nào?

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử và logic, kết hợp các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu để làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố qua các giai đoạn lịch sử cụ thể.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Thị Minh Nguyệt là công trình khoa học lịch sử nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015. Bằng phương pháp lịch sử và logic chặt chẽ cùng hệ thống nguồn tư liệu phong phú, luận án đã làm rõ sự chuyển dịch từ nền nông nghiệp truyền thống sang mô hình nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với điều kiện đặc thù của một đô thị lớn. Các nhận xét khách quan và kinh nghiệm lịch sử được đúc kết từ công trình mang lại giá trị lý luận và thực tiễn thiết thực cho công tác lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.