Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA DOANH NGHIỆP CÀ PHÊ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Khái niệm và cấu trúc của chuỗi giá trị, Sonja Vermeulen và cộng sự (2008) cho rằng: chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp như sản xuất hàng hoá có bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài chính, đóng gói và tiếp thị. Chuỗi giá trị còn bao gồm cả vấn đề tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong khối.
Chuỗi giá trị hàm ý nói tới quá trình vận động của hàng hoá và dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi giá trị được phân tích theo các cách khác nhau, nhưng hiện nay đang tồn tại chủ yếu 3 phương pháp phân tích chuỗi giá trị, bao gồm: GTZ, M4P và FAO. Cuốn “Valuelinks manual” của GTZ đã cung cấp những kiến thức cơ bản về các cách thức nâng cao cơ hội việc làm và thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và các nông dân thông qua việc thúc đẩy chuỗi giá trị trong đó họ đang hoạt động. Cẩm nang bắt đầu bằng việc quyết định xem có nên tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi giá trị hay không, và làm thế nào để kết hợp việc thúc đẩy chuỗi giá trị với các cách tiếp cận phát triển khác (module 0).
Bước đầu tiên trong thúc đẩy chuỗi giá trị là việc xác định chuỗi giá trị cần thúc đẩy (module 1), tiếp đó là phân tích chuỗi giá trị (module 2) và xây dựng một chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị (module 3). Module 4 trình bày những kiến thức dành cho những tổ chức hỗ trợ của các dự án thúc đẩy chuỗi giá trị. Các module tiếp theo (từ 5 đến 10) đều nói về việc thực hiện dự án. Năm 2007, FAO xuất bản cuốn sách “Agri-industrial supply chain management: concepts and applications” (Quản lý chuỗi cung ứng ngành chế biến nông sản: khái niệm và áp dụng), dựa trên việc phân tích Hiệu ứng Bullwhip, hay còn gọi là Hiệu ứng “cái roi da” để xây dựng khung phân tích cho phép theo dõi có hệ thống phần lớn các thông tin cần thiết để phân tích kinh tế.
Hiệu ứng Bullwhip được 7 luan an hiểu là một hiện tượng trong chuỗi cung ứng khi số lượng đơn đặt hàng gửi cho nhà sản xuất và nhà cung cấp có sự chênh lệch lớn hơn nhu cầu của khách hàng, làm gián đoạn quá trình vận hành của chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị do không đánh giá đầy đủ nhu cầu của sản phẩm. Năm 2008, trong cuốn sách “Making value chains works better for the poor: a toolbook for practitioners of value chain analysis”, (Để chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo: sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị”, M4P (thuộc Ngân hàng phát triển châu Á) đã đưa ra những phương pháp phân tích chuỗi giá trị nông sản dựa trên việc phân tích chi phí – lợi nhuận và phân chia thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi. Mô hình của M4P bao gồm 8 công cụ với các bước cụ thể khác nhau, trong đó có 5 công cụ (tool) đáng chú ý là: Công cụ 2 (Tool 2): Lập sơ đồ chuỗi giá trị; Công cụ 3 (Tool 3): Phân tích chi phí và lợi nhuận; Công cụ 5 (Tool 5): Phân tích thu nhập trong chuỗi; Công cụ 6 (Tool 6): Phân tích việc làm trong chuỗi; Công cụ 8 (Tool 8): Phân tích liên kết trong chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị nông sản, trong đó có cà phê, được hình thành và phát triển giống như các nghiên cứu lý thuyết đã đề cập trên đây.
Tuy nhiên, do những đặc thù rất riêng của sản xuất nông sản từ khâu canh tác đến chế biến, tiêu thụ nên giá trị hàng nông sản có những đặc điểm rất riêng, cần nghiên cứu cụ thể. KPMG International (2013) đã đề cập đến một số đặc điểm khác biệt của chuỗi giá trị hàng nông sản so với hàng hoá phi nông nghiệp, đó là: a) Tính không ổn định do sự thay đổi của thời tiết, những thay đổi xã Hội; b) Tính phức tạp do liên quan đến nhiều mùa vụ khác nhau và các loại sản phẩm nông sản khác nhau. Mỗi loại hình mùa vụ và sản phẩm này có những đặc điểm riêng biệt của nó và thường làm phân tán chuỗi cung ứng. c) Tính đa dạng về tác nhân tham gia với trình độ và ý thức sản xuất kinh doanh khác nhau.
KPMG (2013) cũng lập sơ đồ ma trận về các tác nhân trong chuỗi giá trị hàng nông sản, tính toán mức doanh số, số lượng thành viên tham gia từng khâu trong chuỗi, chi tiêu R&D của từng khâu trong chuỗi, trách nhiệm của từng tác nhân trong chuỗi, khả năng tham gia của từng tác nhân trong chuỗi. Phân tích chuỗi giá trị đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến.Samper và Xiomara F. Quiones – Ruiz (2017) khi nghiên cứu trường hợp chuỗi giá sản phẩm cà phê, đã phân tích chuỗi giá trị bao gồm ít nhất 4 khía cạnh: cấu trúc đầu 8 luan an vào – đầu ra, phạm vi địa lý, khung thể chế và cấu trúc quản trị. Đầu vào – đầu ra (input- output) mô tả các công đoạn sản xuất; Phạm vị địa lý đề cập đến thành phần không gian, nơi các công đoạn sản xuất được thực hiện.
Khung thể chế bao gồm các chuỗi liên quan đến các chính sách của địa phương, trong nước và quốc tế liên quan đến chuỗi giá trị. Cấu trúc quản trị liên quan đến cách thức kiểm soát và điều phối chuỗi.Samper và Xiomara F. Quiones – Ruiz (2017), chuỗi giá trị của sản phẩm cà phê trong nhiều thập kỷ qua đã có nhiều thay đổi, trong đó nâng cao tầm quan trọng của hình thức tiêu dùng cà phê ngoài trời (quán, cửa hàng), chất lượng chế biến, giá và các giá trị bảo vệ môi trường. Hãng cà phê Starbucks là một trong những mẫu hình nổi tiếng của chuỗi giá trị cà phê toàn cầu.Thành lập năm 1971 tại Seattle, Mỹ, Starbucks khi đó chỉ là một cửa hàng nhỏ chuyên bán hạt cà phê và các thiết bị rang xay cà phê, hiện nay Starbucks đã phát triển chuỗi giá trị cà phê rất thành công.
Dựa theo hai công đoạn của chuỗi giá trị là hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ, Prablee Bajpai (2017) đã phân tích chuỗi giá trị của cà phê Starbucks nhằm làm rõ sự tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của cà phê Starbucks và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia đó. Trong hai thập niên trở lại đây, làn sóng tiêu dùng cà phê trên toàn thế giới đã có sự thay đổi theo hướng ưu tiên tiêu dùng các sản phẩm cà phê có nguồn gốc địa lý và có chất lượng cao. Chính vì vậy, chỉ dẫn địa lý (Gis) đã được sử dụng cho sản phẩm cà phê như một hình thức phát triển để bảo vệ danh tiếng xuất xứ cà phê của nước họ và nhằm thu được nhiều giá trị hơn từ xuất khẩu cà phê.Samper và Xiomara F Quinoines Ruiz (2017) cho rằng, chỉ dẫn địa lý sản phẩm cà phê là nhằm mục đích tránh sự chiếm đoạt tên địa lý của một nhóm người sử dụng hoặc công ty nào đó đối với sản phẩm cà phê có chất lượng. Nếu không có chỉ dẫn địa lý hoặc làm mất chỉ dẫn địa lý, sản phẩm cà phê có thể bị các công ty lớn nằm ngoài khu vực sản xuất sản phẩm đó lợi dụng danh tiếng, làm ảnh hưởng đến hệ thống sản xuất và chuỗi giá trị sản phẩm.
Các nước đã sử dụng chỉ dẫn địa lý như một biện pháp để tránh cạnh tranh không lành mạnh hoặc nâng cao danh tiếng chất lượng sản phẩm của họ, trao quyền ho các nhà sản xuất địa phương xác định quy tắc cụ thể cho việc sử dụng nhãn hiệu gốc, thực thi các tiêu chuẩn chất lượng và do đó cung cấp các điều kiện để tiếp cận giá trị cao hơn cho các sản phẩm gốc. 9 luan an Claire Durand và Stephane Fournier (2015) khi nghiên cứu chuỗi giá trị một số mặt hàng nông sản mang chỉ dẫn địa lý ở Indonesia và Việt Nam đã cho rằng, chỉ dẫn địa lý là một biện pháp hiệu quả để quảng bá sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hoá và giảm nguy cơ chiếm đoạt nhãn hiệu sản phẩm. Trong bối cảnh đặc trưng bởi sự bất đối xứng thông tin, nơi người tiêu dùng không thể tự mình đánh giá chất lượng của sản phẩm thực phẩm, thì chỉ dẫn địa lý có thể giúp tránh các tình huống rủi ro về chất lượng sản phẩm. Ngoài việc bảo vệ pháp lý và các chức năng ghi nhãn chất lượng, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý cho phép kiểm soát cung và giá cho các nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý giúp các doanh nghiệp thay đổi trạng thái của sản phẩm từ “hàng hoá” trở thành “sản phẩm gốc”, có khả năng gia tăng giá bán hoặc thị phần trên thị trường. Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có thể làm tăng thu nhập của nhà sản xuất, cho phép các thị trường phát triển và thúc đẩy hoạt động nông nghiệp địa phương, dẫn đến tác động tràn trên các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong nghiên cứu của International Coffee Organization (Tổ chức cà phê thế giới – ICO, 2015), sản phẩm cà phê khi tham gia chuỗi giá trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sản xuất, cung, cầu sản phẩm, chất lượng sản phẩm, hoạt động thương mại quốc tế, giá cả cà phê trên thị trường thế giới, thị hiếu người tiêu dùng, đứt gãy trong khâu rang xay sản phẩm và nhiều yếu tố khác. Dựa theo những yếu tố này, Việt Nam, Brazil, Indonesia đều có những lợi thế và rủi ro khác nhau khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Các nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản được tiến hành ở Việt Nam trong thời gian gần đây tương đối nhiều, chủ yếu tập trung ở các sản phẩm nông sản như gạo, cà phê, chè, hồ tiêu, cao su, táo, bưởi da xanh. Doris Backer, Phạm Ngọc Trâm và Hoàng Đình Tú (2009) trong báo cáo “Phát triển chuỗi giá trị - công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp” cho rằng, các tỉnh ở Việt Nam đều có những lợi thế rất lớn trong phát triển nông sản, chẳng hạn Hưng Yên nổi tiếng với nhãn lồng, An Giang nổi tiếng có gạo, Đắk Lắk nổi tiếng có cà phê, tiêu, điều.