Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm chung về sản xuất nông nghiệp 1. Các khái niệm chung: * Khái niệm về nông nghiệp: Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật. Bởi vì, một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. [26, tr5] Vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất rất đặc biệt với tư liệu sản xuất chủ yếu là đất trồng, đối tượng sản xuất chính là cây trồng và vật nuôi.
Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp; hiểu theo nghĩa rộng nó bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản. Trong nông nghiệp có hai loại chính, việc xác định nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng vì có liên quan đến hướng chuyên môn hóa sản xuất, mở rộng các vùng chuyên canh: Nông nghiệp thuần nông (nông nghiệp sinh nhai) là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp thuần nông. 11 Nông nghiệp chuyên sâu: là sự chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc và lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động nêu trên trong nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi hay các sản phẩm được chế biến từ trồng trọt và chăn nuôi… Xét về mặt lịch sử phát triển, ngày nay nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi nông nghiệp truyền thống, loại nông nghiệp chủ yếu tạo ra LTTP cho con người hay thức ăn cho gia súc. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngoài LTTP truyền thống phục vụ cho con người còn có các loại như: sợi dệt, chất đốt, da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và bất hợp pháp… * Khái niệm sản xuất nông nghiệp: SXNN được hiểu là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây chính và chăn nuôi.
Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ, kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Như vậy, SXNN là loại hình đặc biệt, người sản xuất ra sản phẩm (LTTP) vừa tạo ra vật phẩm tiêu dùng cho chính họ mà trước hết để tái sản xuất sức lao động và duy trì sự sống, vừa dùng để làm giống, thức ăn cho gia súc, là hàng hóa đem trao trổi mua bán tại thị trường. Khái niệm sản xuất nông nghiệp hàng hóa SXNNHH là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa, là kiểu tổ chức KT-XH sản xuất ra nông sản (nông, lâm, ngư nghiệp) không phải để tự mình tiêu dùng mà 12 để trao đổi, mua bán trên thị trường, vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất ra nó để tái sản xuất mở rộng và hiện đại hóa nền nông nghiệp. [5, tr12] Tùy vào hình thức tổ chức, mục đích sản xuất của người nông dân có thể phân SXNNHH thành 2 loại: SXNNHH giản đơn: đây là hình thức sản xuất ở trình độ thấp, được thể hiện trước hết ở mục đích của người sản xuất chủ yếu là để tiêu dùng, việc tạo ra sản phẩm nông nghiệp được gọi là nông sản hàng hoá trong hình thức này chỉ là ngẫu nhiên không phải mục đích chính của người sản xuất.
Các nông sản hàng hóa có được là phần thừa ra ngoài nhu cầu tiêu dùng cho bản thân người sản xuất. Ngoài ra trong SXNNHH giản đơn trình độ của lực lượng sản xuất xã hội còn lạc hậu, phân công lao động xã hội chưa phát triển. SXNNHH giản đơn được tiến hành bởi những nông dân sản xuất nhỏ dựa trên chế độ sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và chủ yếu dựa vào sức lao động của bản thân nông dân là chính. SXNNHH lớn: điều khác biệt cơ bản giữa SXNNHH giản đơn và SXNNHH lớn trước hết thể hiện ở mục đích của người sản xuất.
Trong SXNNHH lớn, ngay từ trước khi tiến hành sản xuất, mục đích tạo ra nông sản để bán được đã khẳng định, đó là quá trình tất nhiên, không phải là sự kiện ngẫu nhiên. Sự khác nhau giữa hai hình thức sản xuất còn được thể hiện ở trình độ phân công lao động và trình độ kỹ thuật cao trong SXNNHH lớn. Trong đề tài, SXNNHH được hiểu là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa. Dựa vào sự kết hợp của nhiều nhân tố: tự nhiên, khoa học kỷ thuật - công nghệ, thị trường, nguồn lao động, chính sách phát triển…, để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa (nông, lâm, thủy sản) chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất.
Thông qua việc ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa trong sản xuất, SXNNHH góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn. 13 Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, SXNNHH với quy mô ngày càng lớn, đầu tư trang thiết bị, ứng dụng tiến bộ KHKT ngày đi vào chiều sâu để tạo ra khối lượng lớn sản phẩm với chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Việc đẩy nhanh phát triển SXNNHH sẽ thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tìm kiếm các phương tiện, các phương pháp tối ưu nhằm tạo động lực cho sự phát triển đột phá. SXNNHH còn góp phần tăng nhanh năng suất; giá trị nông sản hàng hóa; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Xu thế tất yếu của quá trình phát triển SXNNHH Kinh tế nông nghiệp đã trải qua những bước phát triển từ trình độ tự cấp, tự túc, sản xuất nhỏ có đặc trưng điển hình là sở hữu tư nhân, manh mún về ruộng đất. Theo nhận định của C.Mác, "chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ loại trừ sự phát triển những sức sản xuất xã hội của lao động, những hình thái xã hội của lao động, sự tập trung tư bản xã hội, việc chăn nuôi theo quy mô lớn, việc ứng dụng khoa học một cách tiến bộ vào nông nghiệp". Thực tế cho thấy, lực lượng sản xuất và KHKT không ngừng phát triển. Đặc biệt, KHKT trong thời đại hiện nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và hầu như tất cả các quốc gia, dân tộc đều tranh thủ ứng dụng thành tựu của nó để phát triển.
Trong SXNNHH lại đặt ra nhu cầu thúc đẩy sự phát triển của KHKT, công nghệ hiện đại đó là xu hướng tất yếu. Trong lịch sử phát triển, sau mỗi cuộc phân công lao động, nền sản xuất xã hội lại được chia tách ra thành nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Từ đó, con người lao động và lao động được chuyên môn hóa. Mặt khác, con người có nhu cầu tiêu dùng rất nhiều sản phẩm lao động của nhiều ngành nghề, chứ không giới hạn ở một số sản phẩm lao động của một vài ngành nghề nào đó.
Những năm gần đây, tại nhiều nước có nền nông nghiệp phát triển, người ta tính ra rằng, nông nghiệp cần tới sản phẩm của khoảng từ 90 đến 100 ngành công nghiệp khác nhau để làm tư liệu sản xuất và phục vụ sản xuất. Càng ngày nông nghiệp càng cần đến những tư liệu sản xuất công 14 nghiệp hơn, còn những tư liệu sản xuất do sức lực và phương tiện của chính nó sản xuất ra lại giảm đi. Điều này chứng tỏ nông nghiệp cần hàng hóa của ngành kinh tế khác, do đó cũng cần sản xuất ra sản phẩm hàng hóa để đổi lấy tiền, rồi dùng tiền này mua hàng hóa, sản phẩm của những ngành kinh tế khác. Điều đó cho thấy, nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc vốn không có mua bán, trao đổi hàng hoá, nếu còn tồn tại trong thời đại hiện nay là một phi lý.
Vì thế, nó phải được chuyển lên SXHH, và việc chuyển này mang tính tất yếu, hợp quy luật. Nền kinh tế nông nghiệp SXHH có khả năng đáp ứng được nhiều nhu cầu, đem lại không ít lợi ích cho xã hội nói chung và người lao động nói riêng. Nó ưu việt, tiến bộ hơn hẳn so với nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc. Bởi vậy, đối với nước ta, việc chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa là vấn đề cấp bách trong thời kỳ đổi mới, thời kì CNH, HĐH.
Để chuyển kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá, cần có những điều kiện cơ bản: - Phân công lao động xã hội là điều kiện để tồn tại sản xuất hàng hóa. Trong sản xuất hàng hóa, người sản xuất một mặt phải tạo ra những hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của xã hội; mặt khác bản thân lao động của người sản xuất còn phải hợp thành một bộ phận không thể tách rời hay một phần của tổng số lao động mà xã hội đã chi phí. Lao động của người sản xuất phải phục tùng sự phân công lao động trong xã hội. Có như vậy quá trình sản xuất mới được vận hành một cách đồng bộ, tương hỗ lẫn nhau.
- Thị trường là một nhân tố làm xuất hiện sản xuất hàng hóa. Thông qua sự trao đổi sản phẩm giữa các cộng đồng, dần dần biến những sản phẩm ấy thành hàng hóa. Thị trường và phân công lao động xã hội là những nhân tố cơ bản làm xuất hiện sản xuất hàng hóa.