Mở đầu. - Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. - Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. - Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Phần 5: Các giải pháp. Luan van 4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm trang trại “Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hóa phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường” (Phùng Đức Anh, 2015) [5].
Phân loại trang trại Theo quy định Thông Tư “Quy định tiêu chí kinh tế trang trại” số 02/2020/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố ngày 28/02/2020 thì trang trại được phân loại như sau [1]: 1. Trang trại chuyên ngành được xác định theo lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, diêm nghiệp và tỷ trọng giá trị sản xuất của lĩnh vực chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản xuất của trang trại trong năm. Trang trại chuyên ngành được phân loại như sau: a) Trang trại trồng trọt. b) Trang trại chăn nuôi.
c) Trang trại lâm nghiệp. d) Trang trại nuôi trồng thủy sản. e) Trang trại sản xuất muối. Trang trại tổng hợp là trang trại trong đó không có lĩnh vực sản xuất nào có tỷ trọng giá trị sản xuất chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản xuất của trang trại trong năm.
Trang trại chăn nuôi lợn Trang trại chăn nuôi lợn thuộc loại trang trại chuyên ngành. Để thành lập một trang trại chăn nuôi lợn cần đáp ứng 03 tiêu chí về giá trị sản xuất bình quân, quy mô chăn nuôi và tiêu chuẩn trang trại. Tiêu chí về giá trị sản xuất bình quân của trang trại chăn nuôi lợn Giá trị sản xuất bình quân của trang trại chăn nuôi lợn phải đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên [1]. Tiêu chí về quy mô chăn nuôi của trang trại chăn nuôi lợn Theo quy định Nghị định “Hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi” số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020, có 03 loại quy mô trang trại chăn nuôi lợn, quy định cụ thể như sau [4]: - Chăn nuôi trang trại quy mô lớn: từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên.
- Chăn nuôi trang trại quy mô vừa: từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi. - Chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ: từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi. (Lưu ý: công thức chuyển đổi số lượng vật nuôi sang đơn vị vật nuôi quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này. Tiêu chuẩn trang trại chăn nuôi lợn Theo quy định Luật Chăn nuôi, trang trại chăn nuôi lợn phải đáp ứng các điều kiện sau đây [6]: - Vị trí xây dựng trang trại phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng, chiến lược phát triển chăn nuôi; đáp ứng yêu cầu về mật độ chăn nuôi quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 53 của Luật này.
Luan van 6 - Có đủ nguồn nước bảo đảm chất lượng cho hoạt động chăn nuôi và xử lý chất thải. - Có biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. - Có chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi phù hợp với từng loại vật nuôi. - Có hồ sơ ghi chép quá trình hoạt động chăn nuôi, sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, vắc-xin và thông tin khác để đảm bảo truy xuất nguồn gốc; lưu giữ hồ sơ trong thời gian tối thiểu là 01 năm sau khi kết thúc chu kỳ chăn nuôi.
- Có khoảng cách an toàn từ khu vực chăn nuôi trang trại đến đối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi và từ nguồn gây ô nhiễm môi trường đến khu vực chăn nuôi trang trại. Kinh tế trang trại Theo Nghị quyết “Về kinh tế trang trại” số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000, khái niệm về kinh tế trang trại được nhận định như sau: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản” (Chính phủ, 2000) [3]. Phát triển kinh tế trang trại Theo Nghị quyết “Về kinh tế trang trại” số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000, mục đích của phát triển kinh tế trang trại được nhận định như sau: “Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nền nông nghiệp bền vững; tạo Luan van 7 việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới” (Chính phủ, 2000) [3]. Cơ sở thực tiễn 2.
Tình hình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du Miền núi Bắc bộ. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3526,2 km2, dân số trung bình là 1,16 triệu người (số liệu năm 2013). Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của Việt Nam nói chung và của vùng Trung du Miền núi Bắc bộ nói riêng. Ngoài việc phát triển vùng chè nổi tiếng của cả nước, ngành chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyên cũng phát triển rất mạnh cả về quy mô và giá trị hàng hoá.
Năm 2015, tổng số trang trại chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyên là 138 trang trại (chiếm 37% trong tổng số 376 trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh). Năm 2020, tổng số trang trại chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyên là 353 trang trại (chiếm 64% trong tổng số 548 trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh). Các trang trại chăn nuôi lợn chủ yếu chăn nuôi gia công cho các doanh nghiệp (Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam,…). Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, số trang trại chăn nuôi lợn tăng nhanh trong vòng 05 năm như vậy là một tín hiệu tích cực và hiện nay nhiều trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được đầu tư hệ thống chuồng trại hiện đại (trung bình mỗi trang trại chăn nuôi được đầu tư từ 3,5 tỷ đồng đến 4,0 tỷ đồng).
Do đó, nhiều trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn có cơ sở vật chất hiện đại và có quy mô chăn nuôi lớn lên đến hàng nghìn con. Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế cho các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn thị trấn Phong Châu Từ thực tiễn phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây, có thể rút ra bài học kinh nghiệm sau đây: - Chủ trương chính sách của tỉnh Thái Nguyên là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn: trên cơ sở đường lối đổi mới, các chính sách phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái Nguyên có ý nghĩa quyết định giải phóng các lực lượng sản xuất, huy động các nguồn lực vào phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn. Trong quá trình đó, tỉnh Thái Nguyên đã có những chính sách và cơ chế hỗ trợ cụ thể cho sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn như sau: + Phát triển cơ sở hạ tầng kết hợp lồng ghép các chương trình dự án giao thông nông thôn, điện, thuỷ lợi, cung cấp điện, giúp cho nhiều trang trại chăn nuôi lợn có đường giao thông thuận lợi cho việc đi lại cũng như vận chuyển hàng hoá, có điện thắp sáng. + Tạo nguồn vốn vay cho các chủ trang trại chăn nuôi lợn thông qua dự án phát triển vật nuôi, quỹ hỗ trợ phát triển.
+ Các chính sách đất đai được thực hiện để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn như: dồn đổi, tích tụ ruộng đất; cấp đất, cho thuê đất có thời hạn lâu dài. + Các lớp bồi dưỡng về quản lý và kỹ thuật chăn nuôi lợn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức để nâng cao kiến thức cho các chủ trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn. Luan van 9 - Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và lai tạo các giống lợn cao sản năng suất mới: nhiều trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn đã áp dụng các công nghệ mới, học tập các mô hình làm giàu ở những vùng và địa phương trong cả nước. Hệ thống chuồng lạnh, hệ thống xử lý chất thải đồng bộ hiện đại được áp dụng vào sản xuất nhằm đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi và đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Công nghệ sinh học được áp dụng vào việc lai tạo các giống lợn cao sản mới có năng suất cao, phù hợp với điều kiện khí hậu và có khả năng miễn dịch cao. Nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng đã được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên triển khai có hiệu quả ở các trang trại chăn nuôi lợn. - Các trang trại chăn nuôi lợn được quy hoạch đồng bộ: các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được quy hoạch đồng bộ, từng bước khắc phục tính tự phát từ việc chuyển đổi từ mô hình kinh tế hộ sang mô hình kinh tế trang trại. Luan van 10 PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động kinh tế của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Phạm vi nghiên cứu Không gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu được thực hiện tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Thời gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu được thực hiện từ ngày 23/02/2021 đến ngày 25/05/2021.
Câu hỏi nghiên cứu - Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn thị trấn Phong Châu hiện nay như thế nào? - Yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn? - Giải pháp nào cần thực hiện để phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi lợn có hiệu quả và bền vững? 3. Phương pháp nghiên cứu 3.