CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN RAU QUẢ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1. ĐĐc ĐiĐm vĐ vai trò cĐa công nghiĐp chĐ biĐn rau quĐ 1. Đặc điểm của công nghiệp chế biến rau quả Công nghiệp chế biến rau quả là một trong những phân ngành hẹp của ngành công nghiệp chế biến. Theo cách phân loại của Tổng cục thống kê trên cơ sở phân theo danh mục hệ thống ngành kinh tế quốc dân ở Nghị định 75/CP, ngày 27 tháng 10 năm 1993 (VSIC) (Phụ lục 3), công nghiệp chế biến nông sản bao gồm 4 phân ngành, trong đó công nghiệp chế biến rau quả thuộc nhóm phân ngành thứ nhất: +Phân ngành chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống; +Phân ngành chế biến thuốc lá và thuốc lào; +Phân ngành chế biến gỗ; +Phân ngành giấy và các sản phẩm bằng giấy.
Với cách phân loại kim ngạch xuất nhập khẩu theo cơ cấu kế hoạch Nhà nước được chia thành 5 nhóm thì công nghiệp chế biến rau quả thuộc nhóm 3 là: Hàng nông sản và nông sản chế biến (Phụ lục 2) Với cách phân loại theo Danh mục tiêu chuẩn ngoại thương mã cấp 1 chữ số (SITC) thì công nghiệp chế biến thuộc cả hai nhóm A gọi là Hàng thô hay mới sơ chế (nhóm 0- 4), trong đó nhóm 0 là Lương thực, thực phẩm và động vật sống, còn nhóm B nó sẽ thuộc nhóm 6 gọi là Hàng chế biến chủ yếu phân theo loại nguyên liệu (Phụ lục 1) Có một cách phân loại theo chương DM Hệ thống điều hoà (HS 96) thì 11 nhóm mặt hàng chế biến rau quả thuộc mã 20 được gọi là sản phẩm chế biến từ rau quả. Cách phân loại này gồm 96 mã ngành chính thức và một mã ngành bổ xung (Phụ lục 4) Như vậy từ sự kết hợp một số cách phân loại chủ yếu đang được sử dụng trong quản lý và thống kê kinh tế trên, đối tượng “công nghiệp chế biến rau quả’’ được sử dụng chính thống trong luận án này. So với ngành công nghiệp chế biến nói chung và công nghiệp chế biến nông sản nói riêng, công nghiệp chế biến rau quả có một số đặc điểm sau: - Sản phẩm và thị trường: Sản phẩm rau quả chế biến là mặt hàng thực phẩm phục vụ cho nhu cầu ăn uống của con người, phân theo công dụng kinh tế của sản phẩm thì sản phẩm rau quả chế biến đa số thuộc nhóm tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên có một số ít sản phẩm rau quả chế biến cũng có vai trò là sản phẩm trung gian để chế biến một số loại sản phẩm cuối cùng khác, chẳng hạn nước dứa quả cô đặc được dùng làm nguyên liệu để sản xuất các loại bánh kẹo, đồ mỹ phẩm.
Sản phẩm rau quả chế biến là nhóm mặt hàng rất đa dạng và phong phú, có thể phân thành một số loại chủ yếu sau: sản phẩm đóng hộp, sấy khô, muối, sơ chế, nước hoa quả. Sản phẩm rau quả chế biến thuộc nhóm mặt hàng thực phẩm và đồ uống nên thời gian bảo quản và sử dụng có giới hạn nhất định. Những sản phẩm rau quả chế biến góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất. Tuy nhiên có thể xếp những mặt hàng này vào nhóm sản phẩm tiêu dùng cao cấp chứ không thuộc những mặt hàng thiết yếu như một số lương thực, thực phẩm khác, chẳng hạn như gạo, rau tươi ăn hàng ngày.
Đầu tư vào sản xuất sản phẩm rau quả chế biến có tính rủi ro cao, lợi nhuận thấp. Đặc điểm này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cần tính đến trong sự khuyến khích đầu tư vào khu vực này của nền kinh tế. Nếu theo cách phân loại nhu cầu của Maslow thì nó thuộc nhóm nhu cầu 12 vật chất và nằm ở đáy của Hình 1. Tự hoàn thiện Nhu cầu được kính trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu vật chất (ăn, uống, mặc.
Tháp nhu cầu của Maslow Theo Maslow nhu cầu của con người được phân thành 5 loại và được xếp theo các bậc như hình tháp. Nhìn chung con người ta thường mong muốn được thoả mãn các nhu cầu bậc thấp trước rồi mới mong muốn được thoả mãn các nhu cầu ở bậc thang trên. Nhưng trên thực tế xu hướng đó không phải lúc nào và không phải bất cứ ai cũng đúng. Bởi lẽ cũng có thể cầu về vật chất chưa được thoả mãn tốt nhưng người ta vẫn có nhu cầu được an toàn, vẫn có nhu cầu giao lưu với công đồng bên ngoài.
Đây là một hạn chế của cách nhận định và đánh giá của Maslow về cầu của con người đối với sản phẩm tiêu dùng. Đối với thị trường nông sản, sản phẩm rau quả chế biến được xếp vào loại sản phẩm cao cấp. Theo[23], từ đó cầu của sản phẩm có một số đặc trưng sau: Thứ nhất cầu có mối quan hệ nghịch với giá cả, có nghĩa là khi giá tăng 13 lên sẽ làm cho cầu về sản phẩm rau quả chế biến giảm xuống và ngược lại khi giá rẻ và giảm xuống sẽ làm cho cầu tiêu dùng nhóm sản phẩm này tăng lên;Thứ hai, cầu của sản phẩm này có quan hệ thuận với thu nhập của người tiêu dùng. Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì họ sẽ có xu hướng mua nhiều hơn loại mặt hàng chế biến này.
Quy luật mức cầu theo độ nghiêng đi xuống: Khi giá của một mặt hàng được nâng lên (trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi) thì lượng cầu về hàng hoá đó giảm xuống. Nói cách khác, nếu người sản xuất quyết định tung số lượng một mặt hàng ra thị trường hôm nay nhiều hơn hôm qua, trong điều kiện các yếu tố khác bằng nhau, thì chỉ có thể bán được một khối lượng lớn hơn với giá thấp hơn ngày hôm qua. Như vậy yếu tố giá cả tác động chính đến cầu, ngoài ra còn có một số yếu tố khác như: thu nhập bình quân của người tiêu dùng, quy mô của thị trường hay là số hộ gia đình rõ ràng có tác động đến lượng cầu ở mỗi mức giá, giá cả và tình trạng có sẵn những mặt hàng khác, đặc biệt là các mặt hàng thay thế và cuối cùng là yếu tố thuộc về chủ quan gọi là khẩu vị hay sở thích của người tiêu dùng[29]. Về thị trường, đối với sản phẩm rau quả chế biến có một số nét nổi bật như sau: có thể nói về mặt lịch sử thì sản phẩm rau quả chế biến ở trình độ thấp thường gắn với nhu cầu tiêu dùng của người nông dân trong bối cảnh tự cung tự cấp về thực phẩm rau quả.
Còn đối với các sản phẩm rau quả chế biến theo kiểu công nghiệp lớn đặc biệt là các loại rau quả hộp thường gắn với thị trường các thành phố, đô thị cũng như các khu công nghiệp. Bởi vì sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến nông sản cũng gắn liền với việc phục vụ nhu cầu tiêu dùng về các loại lương thực, thực phẩm chế biến gia tăng của quá trình đô thị hoá. Như vậy có thể nói với thị trường đô thị, khu công nghiệp thì khách hàng chủ yếu của sản phẩm rau quả chế biến thường có thu nhập tương đối cao trong xã hội. Hay nói cách khác khách hàng thường 14 là những người có khả năng thanh toán cao.
Là sản phẩm thuộc nhóm lương thực thực phẩm nên thời gian bảo quản từ sau khi sản xuất đến khi tiêu dùng không phải là dài như một số hàng công nghiệp tiêu dùng khác. Từ đặc điểm này đòi hỏi quá trình chế biến, bảo quản cần tuân thủ những yêu cầu về VSATTP rất cao. Có như vậy sản phẩm mới giữ được uy tín thoả mãn những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm của thị trường; - Nguyên liệu chế biến: Nguyên liệu chế biến chủ yếu là các loại rau quả tương ứng với từng vùng và tiểu vùng khí hậu, chẳng hạn vùng nhiệt đới có dứa, cam, vải, nhãn, chuối, dưa chuột, xoài, thanh long, cà chua, nấm.;vùng ôn đới có táo, lê, đào, mận, bắp cải. Sản phẩm rau quả là loại nông sản có tính thời vụ trong gieo trồng và thu hoạch.
Thời gian thu hoạch rau quả ngắn, thậm chí có những loại chỉ từ nửa tháng đến một tháng. Có những loại một năm trồng và thu hoạch một vụ như vải, nhãn, chôm chôm, nhưng cũng có những loại một năm trồng và thu hoạch từ hai vụ trở lên, chẳng hạn dứa, cam, cà chua, dưa chuột. Tuy nhiên dưới tác động và vận dụng những tiến bộ khoa học công nghệ người ta có thể hạn chế bớt được tính thời vụ của một số nông sản, trong đó có một số loại rau quả. Tính đa dạng và phong phú của các loại nguyên liệu rau quả đòi hỏi và cho phép giải quyết chính sách đa dạng hoá sản phẩm của các nhà máy chế biến.
Từ đó đặt ra yêu cầu cho việc đầu tư công suất hợp lý ở các nhà máy chế biến, phương án sản phẩm cũng như công tác định vị các đơn vị sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực này. Dưới góc độ hoạch định các doanh nghiệp chế biến có thể vận dụng mô hình chiến lược sản xuất sản phẩm hỗn hợp theo mùa vụ. Đây là một mô hình chiến lược rất được các nhà kinh doanh quan tâm là thực hiện việc kết hợp sản xuất các loại sản phẩm theo mùa vụ khác nhau, bổ xung cho nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp chế biến thực phẩm, vừa sản xuất và cung cấp các sản 15 phẩm rau quả theo mùa vụ theo tư duy “mùa nào thức ấy”, vừa sản xuất và kinh doanh các loại thực phẩm khô khác có thể dùng cho các mùa khác nhau trong năm.
Hơn thế nữa nguyên liệu rau quả không giống như các nguyên liệu công nghiệp khác để có thể dự trữ lâu được, nó thuộc nhóm vẫn được xếp vào loại “sáng tươi, trưa úa, chiều tàn”. Nhóm nguyên liệu rau quả vừa tập trung vừa có tính phân tán. Đây cũng là tính đặc thù ảnh hưởng đến bài toán chọn vùng và địa điểm cụ thể trong bài toán định vị doanh nghiệp. Phương án bố trí phải vừa gắn nhà máy chế biến với các vùng nguyên liệu chuyên canh có quy mô lớn, tập trung vừa phải bảo đảm tận dụng được các nguồn nguyên liệu nhỏ lẻ, phân tán.