Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm Nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực * Khái niệm Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là một vấn đề nổi lên hàng đầu trong thế kỷ XXI, được thế giới quan tâm sâu sắc. Cho đến nay, nguồn nhân lực là một khái niệm đa dạng được đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau.
Nhưng nói tới nguồn nhân lực là chúng ta đề cập đến một yếu tố quan trọng nhất, năng động nhất của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nó khác so với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ, vốn…) ở chỗ nguồn nhân lực cùng với hoạt động có tính sáng tạo, đã biết tác động vào giới tự nhiên, làm biến đổi giới tự nhiên, trên cơ sở đó mà hình thành nên các quy luật lao động và quan hệ xã hội. - Trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn (vốn người, tư bản người) là một trong những thành tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thế giới đã cho rằng: Nguồn lực con người được hiểu là toàn bộ vốn người (trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó.
Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: "Nguồn lực con người là vốn quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp", đó là "người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng 1 z 4 và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại" [15, tr. - Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi thành tố hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Với góc độ tiếp cận nguồn nhân lực là lực lượng lao động, theo đánh giá của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người đang trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo các nghĩa sau: + Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động để phát triển kinh tế xã hội, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực; ở trong độ tuổi lao động, tham gia hoạt động kinh tế và dữ trữ [39, tr.
+ Với tư cách là khả năng đảm đương chính của lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, là toàn bộ dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động (do pháp luật lao động quy định). Trên cơ sở cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với khái niệm nguồn lao động; tuy nhiên nguồn lao động hiện hữu là toàn bộ những người đang làm việc và tích cực tìm việc làm, còn nguồn nhân lực còn bao hàm cả một bộ phận tiềm tàng chưa tham gia vào quá trình lao động [39, tr. + Trong giai đoạn hiện nay, một số nhà khoa học Việt Nam cho rằng nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng con người, trong đó thể hiện cả trên phương diện thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, trình độ và phong cách làm việc. Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX - 07 thì: "Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, 1 z 5 năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.
Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…" [23, tr. Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực có nội dung rất rộng song về cơ bản nguồn nhân lực không chỉ được được cấu thành từ dân số, hay nguồn lao động của một quốc gia dân tộc mà nó bao hàm cả tiềm năng lao động của con người. Vậy, có thể hiểu rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người, là tổng thể số lượng dân, cơ cấu số dân, đặc biệt là chất lượng người với sức mạnh và kỹ năng của nó có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế và xã hội. Nguồn nhân lực được cấu thành bởi các thành tố: số lượng, cơ cấu, chất lượng và mối quan hệ giữa chúng hợp thành một chỉnh thể thống nhất tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội.
Về số lượng Đây là thành tố đóng vị trí quan trọng đầu tiên của nguồn nhân lực, một quốc gia nếu không có số lượng cần thiết thì không thể phát huy được sức mạnh của nguồn nhân lực, tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng nguồn nhân lực của bất kỳ quốc gia nào cũng đều được hình thành dựa trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, giới tính và sự phân bố dân cư theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số… Trong đó số dân trong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh một cách rõ nhất về số lượng nguồn nhân lực. Về cơ cấu Cơ cấu nguồn nhân lực là cơ cấu về số dân, về độ tuổi, giới tính; cơ cấu về thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo; cơ cấu về trình độ học vấn; trình độ chuyên môn nghề nghiệp, cơ cấu vùng miền… Toàn bộ cơ cấu đó phản ánh tính hợp lý hay không hợp lý, sự phù hợp hay không phù hợp của nguồn nhân 1 z 6 lực trong một quốc gia, trong một ngành, một lĩnh vực nhất định, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định. Về chất lượng Chất lượng nguồn nhân lực là sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố và giá trị cùng tham gia tạo nên.
Trong đó, gồm ba yếu tố cơ bản: thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực là tình trạng sức khỏe của con người, biểu hiện ở sự phát triển bình thường, có khả năng lao động. Thể lực được phản ánh bởi những chỉ tiêu về thể trạng (chiều cao, cân nặng), bệnh tật, tuổi thọ. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của con người, có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả năng học tập và lao động lâu dài.
Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con người. Trí lực được phản ánh bởi những chỉ tiêu về yếu tố trí tuệ, tinh thần, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kĩ thuật của người lao động. Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trong mọi hoạt động. Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất đạo đức tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân.
Tâm lực được kết tinh bởi hàng loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc; khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hòa nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc. Tâm lực tạo ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người. Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội. 1 z 7 * Khái niệm phát triển Nguồn nhân lực Vào những năm 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn tài nguyên người (Human Resources Development - HRD) được hình thành và phát triển dựa trên lý thuyết phát triển của Liên hợp quốc về vị trí của con người, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đến năm 1990, khái niệm "phát triển con người" (Human Development) mới xuất hiện trên thế giới gắn với báo cáo về phát triển con người trong chương trình phát triển của Liên hợp quốc công bố. Theo đó, của cải đích thực của mỗi quốc gia là con người của quốc gia ấy và mục đích phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe. Quan điểm của Liên hợp quốc về "phát triển con người" nhấn mạnh đến mục tiêu hơn là phương tiện của sự phát triển. Các nhà khoa học Việt Nam hiện nay đã đưa ra khá nhiều quan điểm về "phát triển nguồn lực con người" hay "phát triển nguồn nhân lực" trong các công trình nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau.
Nhưng tựu trung lại, đều nhấn mạnh đến quá trình gia tăng về giá trị cho con người Việt Nam gắn với các mặt: thể lực, trí lực, đạo đức…, tạo ra môi trường ngày càng thuận lợi cho sự phát triển con người, đáp ứng ngày càng tốt hơn với những đòi hỏi tất yếu của công cuộc đổi mới đất nước. Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc: "Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng các giá trị đạo đức cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực. làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước" [23, tr.